Hiển thị các bài đăng có nhãn laptop. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn laptop. Hiển thị tất cả bài đăng

Công nghệ CPU đa nhân

Các cpu đa nhân đã bắt đầu xuất hiện trên thị trường vào khoảng năm 2005. Intel là người tiên phong với những model đa nhân dành cho máy chủ đầu tiên dựa trên nền tảng x86/x86-64 của mình (dòng chip Itanium), AMD ngay sau đó đã có lời đáp trả bằng những model lõi kép Opteron vào tháng 4/2005. Intel lại nhanh chân hơn AMD khi giới thiệu chip Pentium D dành cho thị trường tiêu dùng phổ thông vào tháng 5/2005, sự kiện này được xem như là mốc khởi đầu cho cuộc cạnh tranh CPU đa nhân nhiều năm sau đó. Cuộc chiến này lan rộng trên nhiều mặt trận, từ máy tính để bàn sang máy tính xách tay, từ máy chủ qua đến smartphone và máy tính bảng. Số lượng nhân thay đổi chóng mặt, từ 2 nhân, lên 4 nhân, 6 nhân và một số chip 8 nhân đã được lên kế hoạch (kiến trúc Bulldozer của AMD). Tuy nhiên phổ biến nhất với đa số người dùng vẫn là những chip 2 nhân và 4 nhân, 6 nhân rất ít xuất hiện trên thị trường phổ thông, còn 8 nhân trở lên chỉ dành cho các hệ thống máy chủ. Vậy, câu hỏi đặt ra là, bạn nên trang bị chip 2 nhân hay 4 nhân khi mua máy tính mới?




Kiến trúc của chip Pentium D (2 nhân trên 2 đế riêng), đây là CPU 2 nhân đời đầu dành cho PC


Tác dụng của đa nhân là gì?

Khi máy tính bạn có một CPU đa nhân, nói đơn giản máy của bạn có thể làm nhiều việc cùng một lúc (đa nhiệm), hoặc làm một việc lớn nhanh hơn bình thường, nếu ứng dụng đó được lập trình để hỗ trợ đa nhân. Khái niệm đa nhiệm rất dễ hiểu: bạn vừa có thể duyệt web, check mail thường xuyên, xử lý bảng tính Excel 20.000 ô, và các tác vụ trên đều diễn ra với tốc độ nhanh chóng, không bị trễ nãi do lần lượt chờ nhau như với các cpu đơn nhân. Khi bạn chỉ xử lý một tác vụ duy nhất, CPU sẽ phân bổ tác vụ này thành nhiều phần nhỏ hơn và chia cho các nhân cùng xử lý song song đồng thời, kết quả là công việc của bạn được xử lý nhanh hơn nhiều so với đơn nhân. Còn về tác vụ phổ biến khác của PC là chơi game, cpu sẽ phân bổ đối tượng 3D thành nhiều phần, nhiều khối, và mỗi nhân sẽ xử lý một phần đối tượng đó một cách song song, và sau đó kết hợp kết quả xử lý lại và xuất ra màn hình, rất đơn giản đúng không nào? Tóm lại, ta cứ hình dung 1 CPU đa nhân sẽ giống một quầy thu ngân, càng có nhiều nhân viên thì cùng lúc sẽ tính tiền được cho nhiều khách hàng hơn.





Kiến trúc của chip Intel Core 2 Quad, gồm 2 nhân core 2 duo ghép lại


Vậy 2 nhân với xung nhịp cao hay 4 nhân có lợi hơn?

Đây là câu hỏi mà bản thân tôi từng suy nghĩ khi so sánh 2 CPU core i7 đời đầu của laptop là i7 620M và i7 720QM. Một có 2 nhân nhưng xung nhịp cao (620M) và một 4 nhân nhưng xung nhịp thấp hơn (720QM).





Kiến trúc tiên tiến của chip Core i7

Nhìn chung với các tác vụ thông thường mà ta hay sử dụng hàng ngày, chip 2 nhân nhưng xung nhịp cao sẽ cho bạn cảm giác nhanh hơn so với chip 4 nhân (có xung nhịp thấp hơn), đơn giản vì còn rất nhiều phần mềm hiện nay vẫn được lập trình để tận dụng tối ưu CPU 2 nhân. Nhưng với các tác vụ nặng nề và được tối ưu cho 4 nhân thì chip 4 nhân sẽ nhanh hơn hẳn so với chip 2 nhân, dù xung nhịp có cao đến đâu (các game 3D nặng, các phần mềm biên tập phim, xử lý ảnh…)

Một ví dụ cụ thể: chip Intel Core i3 2100 (2 nhân xung nhịp 3,1GHz) trong máy tính tất cả trong một Gateway ZX6961-UB20P đạt được 2.639 điểm PCMark 7 (là ứng dụng để thể hiện năng lực làm việc thông thường hàng ngày), nhưng chỉ đạt 2.99 điểm Cinebench R11.5 (phép thử năng lực dựng hình 3D).

Trong khi đó chip Intel Core i5 2500S (4 nhân) với xung thấp hơn nhiều là 2,7GHZ có mức điểm PCMark 7 chỉ 2.190 điểm nhưng lại đạt đến 4.45 điểm CineBench.

Điều đó chứng tỏ: với các tác vụ khá nặng và có tối ưu tốt cho đa nhân thì các cpu 4 nhân sẽ bỏ xa 2 nhân, dù xung nhịp có thấp hơn nhiều. Trong ví dụ trên, i5 2500s nhờ có bộ đệm lớn và số nhân nhiều hơn nên cho kết quả vượt trội i3 2100 trong những ứng dụng 3D nặng nề, game là một trong số đó.


Vậy phải lựa chọn như thế nào?

Nếu bạn đắn đo giữa 2 nhân và 4 nhân, bạn đã có câu trả lời dựa vào nhu cầu của mình: nếu bạn chỉ sử dụng cho các nhu cầu thông thường như lướt web với số tab lớn, check nhiều tài khoản email, chơi các game đơn giản như Angry Bird, chip 2 nhân sẽ đem lại trải nghiệm tốt nhất cùng với giá thành hợp lý hơn. Nếu bạn là người đam mê game 3D, chuyên dựng phim và chỉnh sửa hình ảnh, các cpu 4 nhân là lựa chọn tối ưu cho bạn, mặc dù có giá thành cao hơn nhưng nó giúp bạn tiết kiệm nhiều thời gian chờ đợi, mà cuối cùng bạn vẫn là người hưởng lợi.



Tuy nhiên, khi mua một chiếc máy mới, chúng ta thường có xu hướng chọn cấu hình mạnh hơn mức nhu cầu thông thường. Nhưng máy tính không chỉ bao gồm mỗi CPU, nó là sự kết hợp của nhiều thành phần khác, ví dụ CPU có nhanh tới đâu mà HDD chậm chạp, thiếu Ram… thì bạn vẫn phải chờ tải file và CPU sẽ ở trạng thái chờ, rất hao phí, đây gọi là hiện tượng “thắt cổ chai” (bottleneck). Do đó không nhất thiết phải là CPU mạnh nhất, mà hãy chọn một cấu hình cân bằng giữa CPU, mainboard, RAM, HDD/SSD và cả bộ nguồn (PSU – nếu là máy để bàn), đồng thời những thứ nhỏ khác như khả năng giải nhiệt của keo tản nhiệt và sự thoát khí của thùng máy, sẽ giúp máy bạn đạt được hiệu năng tối ưu và chạy ổn định trong thời gian dài. Cuối cùng, sự lựa chọn vẫn phụ thuộc nhiều nhất vào túi tiền và sở thích của bạn, bởi xét cho cùng, CPU 2 nhân hay 4-6 nhân cũng chỉ để phục vụ cho nhu cầu công việc, giải trí mà thôi, và nhiều hay ít nhân không quan trọng bằng sự hài lòng của chính bạn.

Cách nhận biết cpu có mấy nhân ?

Nếu dùng trong laptop thì thường Core i7 là 4 nhân thôi, còn Core i3, i5 đều là loại 2 nhân (i5 cũng có 4 nhân nhưng rất hiếm) nhưng chúng dùng công nghệ siêu phân luồng (Turbo Boost) Còn nếu dùng trong desktop thì con Core i5 chỉ tối đa 4 nhân 4 luồng


Các kí hiệu:
M: Mobility - di động
U: Ultra -dòng siêu tích kiệm (có thể là Ultra-low power: tiết kiệm điện nên sẽ không có 4 nhân)
Thường 4 nhân có đuôi là QM và XM (đa số sử dụng trên i7)

chữ duo = dual .
duo core và core 2 duo có 775 chân,
duo core = 2 nhân xử lý 2 luồng
core 2 duo = 2 nhân xử lý 2 luồng : là thế hệ sau cải tiến hơn duo core chút
i3 = 2 nhân xử lý 4 luồng
i5 = 4 nhân xử lý 4 luồng
i7 = 4 nhân xử lý 8 luồng .

i3 i5 i7 cũng có nhiều loại :
+ 1155/ chân 1156 chân cần dùng main thích hợp
+ thế hệ trước thế hệ sau,đời sau thì đương nhiên ngon hơn đời trước
+ loại có chế/không chế xử lý đồ họa ngay trong con CPU .

Khắc phục khi mở laptop không lên

Máy tính xách tay của bạn bỗng nhiên không thể nào khởi động được hoặc trong lúc khởi động lại gặp sự cố và “chết đơ”. Không cần mang đến cửa hàng sửa chữa, bạn có thể tham khảo các mẹo sau đây để khắc phục tình trạng này.



Tình huống 1:
Mặc dù đã cắm vào ổ cắm AC nhưng đèn LED (đèn nguồn, đèn ổ cứng và đèn pin...) vẫn không sáng. Máy tính không “nhúc nhích, đả động” khi bạn bấm nút khởi động.
Trước tiên, bạn nên kiểm tra lại ổ cắm điện AC. Hãy kiểm tra nguồn điện, hoặc dùng một bộ AC khác để kiểm tra thử xem có phải bộ nạp điện của máy bị hỏng không. Nếu AC không bị hỏng thì rất có khả năng nguồn điện trên bo mạch chủ của máy tính có vấn đề. Vì thế, bạn nên đưa ra trung tâm sửa chữa để thay thế.

Tình huống 2:
Khi cắm AC, đèn LED và đèn của pin đều sáng nhưng máy tính vẫn không khởi động được. Ổ cứng không chút “nhúc nhích”, quạt cũng không quay và ổ DVD không chạy được. Nếu đèn LED sáng thì có nghĩa là laptop đã vào điện, lúc này bạn nên kiểm tra lại đã cắm đúng nguồn điện cho ổ cắm chưa.
Tiếp tục, đèn LED sáng nhưng máy vẫn “ngủm”? Bạn thử tháo phích cắm ra, tháo pin laptop và chờ 1-2 phút. Sau đó, cắm lại ổ cắm và thử khởi động thêm lần nữa. Đôi khi mẹo “củ chuối” này lại hữu dụng đấy.
Cũng có thể rắc rối này liên quan đến bộ nhớ. Thử tháo ra và cắm lại thanh RAM hoặc cắm sang khe cắm khác. Nếu bạn đang dùng hai thanh RAM thì thử tháo từng chiếc một và restart lại máy. Có khả năng một trong hai thanh RAM của bạn đã bị hỏng đấy, bạn nên thay cái mới.
Tuy nhiên, nếu cả hai RAM đều chạy được trên một khe cắm A, nhưng lại không khởi động được trên khe cắm B thì chắc chắn khe cắm B bị lỗi. Lúc này, bạn sẽ phải thay thế toàn bộ bo mạch chủ hoặc chỉ dùng 1 khe cắm.

Tình huống 3:
Khi bấm khởi động máy, laptop phát ra một loạt tiếng kêu bíp bíp và không khởi động được. Màn hình không hiện. Trong tình huống này, bạn nên kiểm tra lại RAM như trong tình huống 2. Thử lắp một thanh RAM khác. Hầu hết khi laptop kêu bíp bíp như thế đều do lỗi của RAM - RAM đã bị hỏng.

Tình huống 4:
Bật khởi động máy và có vẻ như laptop khởi động bình thường (đèn LED của ổ cứng nhấp nháy) nhưng lại không xuất hiện hình ảnh trên màn hình. Trong trường hợp này, bạn nên kiểm tra lại laptop bằng cách cắm máy với màn hình ngoài. Nếu màn hình ngoại chạy tốt nhưng vẫn không hiện hình ảnh trên màn LCD của laptop thì rất có thể do một vấn đề nào đó bên trong màn hình.

Tình huống 5:
Bật khởi động máy nhưng laptop lại phát ra tiếng kêu ken két, rít rít. Có thể ổ cứng của bạn bị lỗi gì đó. Bạn nên tháo hard drive và khởi động lại laptop. Lúc này, nếu laptop chạy ngon lành thì đã đến lúc bạn phải thay ổ cứng.
Nếu laptop vẫn kêu ken két và màn hình vẫn hiện lên thì bạn nên dùng tiện ích kiểm tra ổ cứng.

Tình huống 6:
Laptop đã khởi động Windows và chạy được một lúc, nhưng sau đó bỗng nhiên “tắt rụp”. Bạn restart lại máy tính và vẫn cứ bị như thế. Rắc rối này có thể do máy đã quá nóng. Bạn nên nghe xem quạt gió có quay không. Tuy nhiên, vấn đề này đôi khi cũng do RAM bị hỏng, tham khảo thêm Tình huống 2.

Tình huống 7:
Laptop khởi động bình thường nhưng màn hình xuất hiện nhiều vạch ngang, hay các ký tự lạ. Đây có thể là do màn hình LCD bị hỏng hoặc cáp video, card đồ họa hay bo mạch chủ có vấn đề.

Phương án cuối cùng vẫn là mang máy đến trung tâm bảo hành nhưng nó cũng chưa hẳn là phương án tối ưu vì còn tùy thuộc vào tình trạng còn bảo hành còn hay không. Nếu còn bảo hành bạn nên đến các trung tâm để bảo hành hoặc hết thì bạn đừng vội vì có thể những trung tâm bảo hành này sẽ mài dao sẵn để cắt cổ bạn bất cứ lúc nào nếu bạn là gà mờ về tin học có thể đẩy bệnh từ hỏng màn hình qua hỏng main và cái giá bỏ ra sẽ gấp nhiều lần mà bạn cần phải chi cho việc sữa chiếc lap của mình.

 Và bạn nên cẩn thận với những anh chàng kỹ thuật tay ngang có thể biến máy bạn thành con chuột bạch để khám và phá từ chỗ tiếp xúc kém đến việc hỏng main. Bạn nên quan sát khi các anh chàng kỹ thuật không chuyên này hành nghề. Nếu muốn chắc chắn nhất thì hãy liên hệ chúng tôi sẽ trợ giúp cho bạn về thông tin.

Tự ráp bộ điều khiển máy tính từ xa

Ngày nay, máy tính là công cụ đắc lực và là công cụ không thể thiếu trong công tác văn phòng và nhiều lĩnh vực khác, trong số đó phải kể đến giải trí. Và hiện nay, số người dùng máy tính cho giải trí gia đình ngày càng cao. Nhưng một điều mà ai cũng nhận thấy là nó chưa thật sự “mềm dẻo” khi sử dụng (?). Bởi vì, muốn điều chỉnh máy thì không có cách nào khác là bạn phải đến gần nơi đặt máy và tác động vào bàn phím hoặc chuột, điều này cũng gây khó khăn cho những diễn giả trong những buỗi diễn thuyết bằng hình ảnh trên máy chiếu. May mắn thay, trong một lần “lang thang Internet”, tôi đã tìm hiểu được công nghệ điều khiển máy tính từ xa bằng Remote. Với công nghệ này, bạn hoàn toàn có thể tắt màn hình, tắt máy tính, chạy một chương trình để chơi các ứng dụng về Multimedia như xem đĩa VCD, nghe nhạc MP3…chỉ bằng một cái bấm trên cái Remote của Tivi, đầu Video…bất kỳ. Điều thú vị ở đây là: ai cũng có thể ráp được thiết bị điều khiển từ xa này, ngay cả trong trường hợp bạn không biết gì về điện tử!

1. Chuẩn bị:

Mắt nhận sóng hồng ngoại hiệu TL1380 (9.000đ), Giắc cái 9 chân (5.000đ), tụ điện 100nF (đọc là tụ 100 nanofa, thường có màu xanh lá cây và có số hiệu là 104K, 2.000đ), diod ổn áp 5.1V (nơi bán gọi là diod Zener 5.1 Vol, 500đ), điện trở 3.3KΩ (thân điện trở có 4 vạch màu: 2 vạch màu cam, 1 vạch màu đỏ, 1 vạch màu bạc, 100đ), dây tín hiệu loại 3 sợi (3 lõi, 2.000đ) dài 1m (hoặc cũng có thể dùng dây điện thông thường). Tổng cộng là: 18.600đ.
Vật dụng cần có: Mỏ hàn chì, chì hàn, tuốc-nơ-vít (nếu không có các vật dụng này, bạn có thể nhờ một dịch vụ sửa chữ điện tử nào đó hàn dùm).
Ngoài ra, bạn cần có 1 cái Remote cũ, hoặc sử dụng luôn cái Remote của tivi hay đầu video sẵn có (nếu không có thì bạn có thể tìm mua các Remote cũ chừng 3.000đ đến 5.000đ, mặc dù họ thách đến muời mấy ngàn).




2. Sơ đồ mạch điện và cách bố trí các linh kiện:


Trong đó:
IR detector: mắt nhận hồng ngoại, R1 : điện trở, D1: Diod ổn áp (diod Zener), C1: Tụ điện, RS232: Giắc cái 9 chân.
Cách phân biệt chân của các linh kiện trong sơ đồ: Điện trở và tụ điện thì không cần phân biệt chân; với diod Zener thì bạn cần phân biệt cực âm với cực dương: đầu có vạch màu đen là cực dương (ứng với đỉnh có gạch ngang của tam giác trên sơ đồ); các chân của giắc cái có đánh số thứ tự từ 1 đến 9 ở cả 2 mặt nên rất dễ xác định; mắt nhận hồng ngoại TL1380 có 3 chân: chân số 3 (OUT) là chân nằm cách xa 2 chân còn lại, chân số 2 (VCC) là chân ở giữa, và tất nhiên chân còn lại (GND) là chân số 1.
Bạn nối các linh kiện lại như sau: Nối các cặp chân 7 và 8, 5 và 9 của giắc cái lại với nhau; mắc cực dương của diod ổn áp vào chân 7, cực âm vào chân 9; mắc tụ điện song song với diod ổn áp; điện trở R mắc vào chân 6 và chân 7 của giắc cái; dùng dây tín hiệu 3 sợi nối chân số 1, số 2, số 3 của mắt nhận hồng ngoại theo thứ tự đến chân số 5, số 7, số 6 của giắc cái. Bạn nên lắp các linh kiện sát vào giắc cái để khi vặn nắp hộp của giắc cái lại thì chúng nằm gọn ở bên trong giắc cái, còn mắt nhận tín hiệu hồng ngoại thì đặt bên ngoài để nhận được tín hiệu từ Remote (Xem hình)

Sau khi lắp xong mạch điện, bạn quan sát phía sau thùng máy tính để xác định cổng COM1 và cắm giắc cái vào cổng COM1 này. Đến đây thì xem như công tác chuẩn bị của bạn đã xong.

3. Download phần mềm điều khiển và cài đặt

Nếu hai bước trên là kết nối các linh kiện điện tử lại với nhau (giống như khi chúng ta lắp các thiết bị phần cứng của máy tính lên bo mạch chủ vậy) thì bước thứ ba này là cài đặt phần mềm để sử dụng được thiết bị điều khiển từ xa này (cũng giống như chúng ta cài đặt hệ điều hành Windows). Tuy nhiên, nó không khó khăn và rắc rối như khi cài Windows mà ngược lại nó cực kì dễ nữa là khác. Thông thường, khi gắn thêm một thiết bị phần cứng thì bạn cần phải có driver nếu nó không phải là thiết bị Plug and play. Đối với thiết bị điều khiển này thì bạn chỉ cần chạy chương trình điều khiển của nó và thiết lập đúng thông số là nó hoạt động được ngay. Cụ thể bạn làm như sau:
-Trước tiên, bạn vào Website http://www.girder.nl/ rồi bấm vào mục Download nằm phía bên trái để mở trang web download phần mềm Girder (miễn phí), trang web này hiện đầy đủ các phiên bản mới cập nhật của phần mềm này, tuy nhiên, bạn nên download phiên bản mới nhất 3.2.9b và download ở dạng file Zip (1.35MB); mặc dù dung lượng file chương trình lớn như vậy nhưng bạn chỉ mất chừng 5 giây là download xong (bạn có thể gõ chính xác địa chỉ sau để download: http://www.girder.nl/downloadn.php?Link=502). Chỉ phần mềm Girder thôi thì chưa đủ để Windows nhận ra thiết bị điều khiển này, bạn phải download thêm Plugins Igor SFH56-device bằng cách bấm vào mục Plugins trong trang Download rồi bấm vào dòng Igor SFH56-device để download Plugins này (hoặc gõ chính xác địa chỉ: http://www.girder.nl/downloadn.php?Link=343 để download).
Sau khi download xong 2 file Girder.zip và IgorPlug-3.zip, bạn tạo thư mục GIRDER trên đĩa cứng và giải nén file Girder.zip vào thư mục này, rồi tiếp tục giải nén file IgorPlug-3.zip vào thư mục Plugins của thư mục Girder. Kích hoạt file Girder.exe để chạy chương trình, một biểu tượng chương trình được đặt vào khay hệ thống (System Tray-còn gọi là khay đồng hồ).


Trong cửa sổ chương trình Girder, bạn vào menu File>Settings, trong cửa sổ Settings chọn thẻ Plugins, đánh dấu chọn ở dòng Auto Enable Input device, lại đánh dấu chọn vào dòng Igor SFH-56 device trong số các Plugins hiện có (chỉ chọn 1 plugin này), sau đó, bấm vào nút Settings để mở cửa sổ Igor Config, trong cửa sổ này chọn COM1 trong ô Com port, DSR trong ô Input Signal, rồi bấm OK.

Trở lại cửa sổ làm việc của Girder: Chĩa Remote vào mắt nhận hồng ngoại và bấm các nút trên Remote để kiểm tra xem thiết bị đã hoạt động hay chưa. Nếu bạn thấy đèn màu xanh lá cây nằm phía dưới bên phải chớp tắt liên tục, và xuất hiện giá trị trong ô giữa phía dưới khi bấm các nút của Remote là xem như bạn đã ráp thành công.



Bạn có thể tải phần mềm Girder (1.535.066 byte) trong website e-CHIP (đă bao gồm Plugins).



4. Thiết lập chương trình điều khiển bằng Remote

Để điều khiển được một chương trình bằng Remote, bạn phải gán 1 nút bấm của Remote cho chương trình đó. Cách thực hiện như sau:
Vào menu Edit > Add Command (hoặc bấm Ctrl+A), khi đó, theo mặc định chương trình sẽ tạo ra nhóm lệnh New và lệnh New ở nửa bên trái cửa sổ chương trình. Lần lượt bấm chuột phải lên nhóm lệnh, hay lệnh rồi chọn Rename trong menu pop-up để đổi tên cho lệnh (hoặc bấm phím F2). Sau đó, bấm chuột lên lệnh này rồi chọn 1 lệnh trong số các lệnh của các thẻ Windows, OS, Command, Girder, Mouse, Keyboard, Plugins, rồi bấm nút Apply để gán lệnh. Tuỳ theo lệnh mà ngoài nút Apply thì còn có thêm các nút như Target, Volume, Browse, Capture để chỉnh thêm những thông số khác cho lệnh này. Sau khi gán lệnh thì chĩa Remote vào mắt nhận hồng ngoại và bấm cố định 1 nút nhiều lần để xem tín hiệu truyền vào đã chuẩn hay còn dao động, khi sóng hồng ngoại phát ra từ Remote đã chuẩn thì bạn bấm vào nút Learn Event để gán nút của Remote này cho lệnh đó.
Muốn tạo một lệnh mới cũng thuộc nhóm lệnh này, bạn bấm chuột trái lên lệnh này và chọn Add Command, rồi đổi New thành tên lệnh và gán lệnh cho nó. Còn để tạo thêm một nhóm lệnh mới thì khi bấm chuột phải bạn chọn Add Toplevel Group. Trong trường hợp bạn gán nhiều lệnh thì ứng với mỗi lệnh được gán bạn nên gõ tên của nút bấm Remote được gán vào ô Comments để dễ phân biệt và dễ nhớ.


Thí dụ:
-Tạo lệnh tắt màn hình (Monitor): Edit>Add Command, đổi New thành Tat man hinh, bấm chọn thẻ OS, chọn lệnh Monitor Off, bấm nút Apply, chĩa Remote vào mắt nhận rồi bấm nút số 1, kiểm tra tín hiệu và bấm vào nút Learn Event để gán lệnh tắt màn hình cho nút số 1 trên Remote. Bây giờ, bạn bấm vào nút số 1 trên Remote thì màn hình máy tính sẽ tắt.
-Gán nút giảm Volume của Remote thành nút tắt Volume trên máy tính: Add Command, chọn thẻ OS, chọn lệnh Volume Mute Toggle, bấm Apply, chĩa Remote vào mắt nhận rồi bấm vào nút giảm Volume trên Remote và bấm vào nút Learn Event.
-Gán nút tăng Volume của Remote thành nút tăng Volume trên máy tính: Add Command, chọn thẻ OS, chọn lệnh Volume Change, bấm Apply, chĩa Remote vào mắt nhận và bấm nút tăng Volume trên Remote đồng thời bấm chuột vào nút Learn Event, đánh dấu chọn vào dòng OSD, Register, nhập giá trị là 2000 vào ô Step Size, cuối cùng bấm nút Apply. Làm tương tự nhưng nhập giá trị -2000 (giá trị âm) để làm nút giảm Volume.
-Gán nút Power của Remote để Shutdown máy tính: Add Comand, chọn thẻ OS, chọn lệnh Poweroff, bấm Apply, bấm nút Power trên Remote và bấm chuột vào nút Learn Event.
-Gán nút tăng/giảm kênh truyền hình trên Remote hình thành nút cuộn lên, cuộn xuống của bất kỳ cửa sổ chương trình nào đang chạy trên Windows: Thực hiện tương tự như khi gán nút lệnh tăng/giảm Volume nhưng chọn lệnh Mouse WheelUp/Mouse WheelDown trong thẻ Mouse, nhập giá trị là 1 vào ô Step.
Với cách làm hoàn toàn tương tự, bạn có thể gán tất cả nút của Remote bằng các lệnh có trong chương trình Girder.
Sau khi gán lệnh cho mỗi nút của Remote, bạn nên vào File>Save để lưu lại sự thiết lập này. Để mỗi khi khởi động máy tính thì chương trình Girder tự động chạy và nó mở luôn file đã thiết lập thì bạn làm như sau: Vào menu Fle>Settings, trong cửa sổ Settings: đánh dấu chọn vào dòng Auto Load và dòng Launch Girder on windows startup, bấm vào nút Browse và chỉ đến file đã lưu thiết lập (dạng file: *.GML).


Còn rất nhiều lệnh điều khiển khác rất hay và cũng rất dễ sử dụng như: Di chuyển chuột lên, xuống, qua trái, qua phải, Double click, di chuyển cửa sổ, chuyển đổi qua lại giữa các chương trình đang chạy (giống như bấm tổ hợp phím Alt+Tab), đóng chương trình, chạy chương trình bảo vệ màn hình, các phím trên bàn phím, chơi một file nhạc dạng WAV...Để biết được chức năng của từng lệnh, bạn hãy chọn lệnh đó rồi vào menu Command chọn Test Command (hoặc bấm phím F5). Bạn hãy “vọc” hết chúng để biến máy tính của mình thành một công cụ giải trí dạng công nghệ không dây chuyên nghiệp.


Chúc các bạn thực hiện thành công!

Những thói quen sai lầm khi sử dụng sẽ làm hại laptop của bạn

Laptop có ưu điểm về tính di động nhưng cũng dễ hư hại hơn máy bàn nếu bạn không cẩn thận.

Kể từ khi ra đời, laptop đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng máy tính của rất nhiều người. Nhờ tính di động, chúng cho phép bạn dễ dàng mang đi khắp nơi, không bị giới hạn và bó buộc như máy tính để bàn. Tuy nhiên, đổi lại tính linh hoạt, di động đó, laptop cũng dễ hư hạn hơn máy để bàn nếu như bạn không cẩn thận trong quá trình sử dụng. Dưới đây là những sai lầm dễ dàng làm hại tới chiếc máy tính xách tay mà bạn nên tránh.

Để máy rung, lắc quá nhiều



Hiện nay phần lớn ổ cứng laptop vẫn là các loại ổ cứng HDD truyền thống. Đây là loại ổ cứng sử dụng đĩa từ dễ hỏng hóc nếu bị các va đập mạnh. Bởi thế, trừ khi laptop của bạn sử dụng ổ cứng thể rắn SSD, hãy cẩn thận và tránh tạo ra các va đập với laptop. Nếu không nguy cơ hỏng ổ cứng và từ đó làm mất mát dữ liệu lưu trữ trong đó là cực cao.

Không chú trọng tản nhiệt



Một điểm yếu nữa của một cỗ máy tính di động như laptop đó là chúng dễ dàng bị nóng trong quá trình sử dụng. Đây cũng là điều dễ hiểu khi mà chúng ta phải "nhồi nhét" rất nhiều linh kiện vào trong một bộ khung nhỏ gọn. Đồng thời, sau một thời gian sử dụng, một điều bạn không thể tránh khỏi đó là bụi bẩn từ bên ngoài sẽ bay bám vào bên trong các linh kiện. Các lớp bụi này sẽ che khuất phần không gian thoát nhiệt, càng làm cho máy bạn nóng hơn. Chúng cũng bám vào quạt tản nhiệt cho chip, GPU khiến các thành phần này nhanh chóng "bốc lửa".

Để giúp laptop chạy mát, bạn cần vệ sinh bụi ở các khe, quạt tản nhiệt, tra dầu mới cho quạt nếu thấy có hiện tượng quạt phát ra tiếng kêu to. Nếu có điều kiện, bạn nên sắm thêm một chiếc đế tản nhiệt chuyên dụng cho laptop với giá từ 200 đến 300 ngàn đồng.

Hút thuốc, để đồ uống cạnh laptop



Khi hút thuốc lá cạnh laptop, khói thuốc sẽ bay và ám vào các linh kiện bên trong, tạo ra các lớp nhựa thuốc trên bề mặt các linh kiện và rõ ràng điều này gây hại cho các thành phần điện tử bên trong.

Với các loại đồ uống, bạn nên cẩn thận để xa chúng khỏi laptop bởi rất có thể sau một thời gian mải mê với công việc, bạn sẽ vô tình gạt tay làm đổ cốc nước vào bàn phím. Không chỉ làm hỏng hóc linh kiện bên trong và tốn tiền sửa chữa, bạn còn tự làm nhỡ công việc của mình vì một lý do không đáng có.

Để laptop lên đùi, vật mềm



Khi đặt laptop trên người, bạn đã vô tình làm giảm phần diện tích thoát nhiệt của máy khiến hệ thống nhanh bị nóng hơn, vừa gây cảm giác khó chịu khi sử dụng vừa làm giảm tuổi thọ các linh kiện bên trong. Việc để laptop trên các vật mềm như chăn đệm cũng gây hậu quả tương tự, máy nóng do khó thoát nhiệt. Giải pháp là bạn nên mua thêm một dạng bàn kê laptop, vừa giúp máy chạy mát, vừa tạo sự thoải mái trong quá trình dùng máy.

Dùng sạc kém chất lượng



Hẳn bạn đọc chưa quên những vụ tai nạn nghiêm trọng gần đây xảy ra với những người sử dụng sạc điện thoại đểu, như vụ thanh niên ở Đà Nẵng thiệt mạng, thiếu nữ ở Trung Quốc bị tử vong, . Mặc dù những tai nạn như vậy với sạc laptop chưa xảy ra nhưng điều đó không có nghĩa là bạn được phép chủ quan.

Các loại sạc kém chất lượng có thể dẫn tới sốc điện, gây cháy nổ do sử dụng các loại vật liệu rẻ tiền không đảm bảo chất lượng. Vì thế, bạn không nên ham rẻ mua các loại sạc trôi nổi ngoài thị trường (thường được sản xuất ở Trung Quốc). Nên tìm mua ở các nhà phân phối sạc chính hãng hoặc tại các cửa hàng lớn có uy tín cao.

Để laptop trong xe hơi



Cho dù là vào mùa đông hay mùa hè, việc để laptop trong xe hơi là một sai lầm tai hại. Không chỉ laptop của bạn có nguy cơ trở thành mồi ngon cho bọn trộm cắp, mà khi trời quá nóng hoặc quá lạnh, các linh kiện của máy như màn hình, pin...có thể dễ dàng bị hư hại.

Theo các nghiên cứu, khoảng nhiệt độ (của môi trường ngoài, không phải nhiệt độ laptop) mà các linh kiện laptop được đảm bảo an toàn là từ 10 độ C đến 35 độ C. Trong khi đó, nhiệt độ bên trong xe hơi thường cao hơn mức này.

Theo Genk.vn
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...