Hiển thị các bài đăng có nhãn quân sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quân sự. Hiển thị tất cả bài đăng

Vùng cấm bay là gì? Tại sao lại có vùng cấm bay?

Chỉ vài thập kỷ sau khi được phát minh, máy bay đã trở thành một trong những vũ khí nguy hiểm nhất trong chiến tranh. Trong một cuộc tấn công của Phát xít Tây Ban Nha vào thành phố Guemica năm 1937, các máy bay của Phát xít đã tàn phá thành phố với hơn 40 tấn thuốc nổ và bom các loại. Sau cuộc tấn công, toàn bộ thành phố chỉ còn lại một đống đổ nát, và có hơn 1600 người thiệt mạng. Cuộc tấn công khiến cả Thế giới kinh hoàng và phẫn nộ, tuy nhiên các tổ chức Quốc tế lúc đó quá yếu để có thể ngăn chặn cuộc tấn công.


Ngày nay, Liên Hiệp Quốc và Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) đã áp đặt những vùng cấm bay để ngăn chặn những tội ác từ trên không như cuộc tấn công năm 1937. Những vùng cấm bay này sẽ được thiết lập ở những nước có nội chiến, nhằm ngăn chặn các lực lượng bên ngoài nhúng tay vào, cũng như bảo vệ dân thường tránh khỏi các cuộc tấn công đẫm máu. Các máy bay xâm phạm vùng cấm bay mà không quay trở lại hoặc hạ cánh sau cảnh báo sẽ lập tức bị bắn hạ. Bài viết này sẽ giúp chúng ta tìm hiểu kỹ hơn về vùng cấm bay, cách hoạt động cũng như các quy tắc rắc rối mà NATO áp đặt cho chúng.

Nguồn gốc và lịch sử

Vùng cấm bay đầu tiên được áp đặt trên lãnh thổ của Iraq , trong cuộc chiến lật đổ chính quyền của tổng thống Saddam Hussein. Cuộc chiến đã khiến hàng trăm ngàn người Kurd tại Iraq phải bỏ chạy lên vùng đồi núi cằn cỗi gần biên giới Thổ Nhĩ Kỳ. Để giải cứu những người Kurd, Liên Hiệp Quốc đã tổ chức những đội cứu hộ đồng thời cung cấp lương thực và vật phẩm thiết yếu cho họ. Cùng lúc đó, Liên Hiệp Quốc công bố vùng cấm bay đầu tiên, yêu cầu quân đội của Hussein không được can thiệp vào các nỗ lực cứu trợ.



Năm 1992, vùng cấm bay thứ 2 được thiết lập nhằm bảo vệ những người hồi giáo Shiite trong cuộc nổi dậy ở Iraq . Khi các má bay của Shaddam Hussein xâm phạm vùng cấm bay này, lập tức bị bị bắn hạ bởi tên lửa. Lệnh cấm được tiếp tục cho đến khi Mỹ lật đổ được chính quyền Shaddam Hussein năm 2003.

Năm 1993, sau sự tan rã của Ba Tư và những cuộc nội chiến đẫm máu, Liên Hiệp Quốc đã phải áp đặt một vùng cấm bay lên lãnh thổ Bosnia và Herzegovina . Kiểm soát toàn bộ máy bay quân sự trong khu vực và ngăn chặn những cuộc tấn công các nước láng giềng của Bosnia . Sau đó, vùng cấm bay được mở rộng, NATO đã tấn công và tiêu diệt toàn bộ tên lửa phòng thủ của Bosnia để các máy bay tuần tra có thể hoạt động.

Gần đây nhất là cuộc nội chiến tại Libya năm 2011. Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc đã áp đặt điều lệnh trong đó cấm tất cả hoạt động trên không phận của Libya , trừ các hoạt động cứu trợ và tuần tra. Bên cạnh đó Liên Hiệp Quốc còn cho phép các thành viên được sử dụng tất cả các biện pháp cần thiết để ngăn chặn việc xâm phạm cũng như bảo vệ dân thường Libya .



Vùng cấm bay hoạt động như thế nào?

Thẩm quyền pháp lý để thiết lập một vùng cấm bay dựa trên Điều 42 của bộ luật Liên Hiệp Quốc. Trong đó nói rằng nếu ngoại giao không thể giải quyết các mối đe dọa hòa bình Thế giới, Liên Hiệp Quốc sẽ cho phép áp dụng các biện pháp mạnh mẽ hơn. Do đó, để thiết lập một vùng cấm bay, tước hết cần sự chấp thuận của 15 thành viên Hội Đồng bảo an Liên Hiệp Quốc. Trong đó, một trong năm thành viên thường trực là Mỹ, Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc đều có quyền phủ quyết. Trong cuộc xung đột tại Libya , việc thiết lập vùng cấm bay đã bị phủ quyết bởi Nga và Trung Quốc, tuy nhiên sau đó đã bị thuyết phục khi bỏ phiếu.

Sau khi Liên Hiệp Quốc chấp thuận việc áp đặt vùng cấm bay, phải có một thành viên đứng ra nhận việc tổ chức và thực thi lệnh cấm bay đó. Đối với sự kiện ở Libya , NATO đã đứng ra để áp đặt lệnh cấm bay. Việc đứng lên và thực thi lệnh cấm bay không đơn giản chỉ là cung cấp máy bay, tên lửa hay quân đội để ngăn chặn các hành vi xâm phạm, mà các thành viên còn phải tuân thủ theo những quy tắc được đề ra. Trong đó sẽ quy định việc sử dụng vũ lực trong những trường hợp nào, sử dụng ở phạm vi nào cũng như có thể điều động bao nhiêu lực lượng của quân đội. Quy tắc này được gọi là RoEs.

Vùng cấm bay áp đặt đối với Libya dựa trên những tiêu chí cơ bản nhất. Nó cấm bất kỳ chuyến bay nào vào không phận của Lybia, ngoại trừ phục vụ cho các hoạt động nhân đạo, cung cấp vật tư ý tế, thực phẩm và việc sơ tán công dân nước khác ra khỏi vùng xung đột.

RoEs và việc bảo vệ vùng cấm bay

Trong chiến tranh Iraq , lực lượng không quân của Liên Hiệp Quốc bị hạn chế bởi các quy tắc RoEs. Trong khi đó tại Libya, Liên Hiệp Quốc đã ủy quyền nhiều hơn cho NATO với việc có thể thể thực hiện những ‘biện pháp cần thiết’ để ngăn chặn những hành vi xâm phạm.


Kết quả là, trong chiến dịch Odyssey Dawn năm 2011, Hải quân Mỹ và một tàu chiến của Anh đã phóng một loạt 112 tên lửa Tomahawk vào các mục tiêu quân sự của Libya, làm tê liệt radar và thiết lập một hệ thống tên lửa chống máy bay. Mục đích là để giải phóng không phận và đảm bảo an toàn cho các máy bay tuần tra của NATO.

Sau đó, Mỹ đã phái các máy bay không người lái để thăm dò và đánh giá mức độ thiệt hại sau cuộc tấn công đầu tiên. Tiếp theo, các máy bay gây nhiễu radar được Hải quân Mỹ phái đi như một biện pháp bổ sung, nhằm vô hiệu hóa những gì còn lại của hệ thống phòng không Libya . Tiếp đó các máy bay của Mỹ và NATO tấn công các căn cứ không quân của chính phủ Libya , nhằm mục đích làm giảm khả năng tấn công phiến quân và gây thiệt hại cho dân thường từ những cuộc tấn công bằng máy bay của chính phủ Libya .


Công việc tuần tra trên không cũng khá phức tạp, theo các báo cáo họ chỉ có 4 giờ đồng hồ để gửi các thông tình báo mới nhất. Công việc yêu cầu thu thập cả dữ liệu về vị trí của các máy bay liên minh, phát hiện các vật thể bay lạ và nghiên cứu cả dữ liệu thời tiết. Khi phát hiện một vật thể bay lạ từ báo cáo của máy bay do thám, họ sẽ phải xác định xem nó có phải máy bay thù địch hay chỉ là một sự xâm phạm không phận do nhầm lẫn. Trước khi có bất cứ hành động nào, họ đều phải nhận chỉ thị rõ ràng từ căn cứ chỉ huy trên mặt đất. Đôi khi thời gian tuần tra kéo dài, khiến các máy bay phải được tiếp nhiên liệu trên không để tiếp tục công việc.

Vùng cấm bay có thực sự hiệu quả?

Theo các chuyên gia, việc thực thi lệnh cấm bay tại Libya trong một thời gian dài có thể sẽ là thách thức lớn đối với NATO. Trung tâm đánh giá chiến lược và Ngân sách dự trữ ước tính chi phí để áp đặt lệnh cấm bay trên toàn bộ lãnh thổ Libya trong sáu tháng là từ 3 đến 8 tỉ USD.


Ngoài ra, các máy bay tuần tra và phi công của NATO cũng gặp rất nhiều rủi ro. Vào năm 1995 tại Bosnia, một báy bay F-16 của Mỹ do Đại úy Scott O’Grady điều khiển khi đang tuần tra đã bị hạ bởi một tên lửa đất đối không. Grady đã buộc phải nhảy dù vào lãnh thổ Serbia , sau đó trải qua 6 ngáy vật lộn trong rừng. May mắn ống đã tìm được cách liên lạc vô tuyến và cuối cùng đã được giải cứu bởi một nhóm lính thủy đánh bộ.

Tại Iraq , thủ tướng Saddam Hussein đã trao giải thưởng 14.000 USD cho bất cứ ai có thể bắn hạ máy bay tuần tra của liên minh. Ngay tại Libya, khi mà các hệ thống phòng thủ chống máy bay của chính phủ bị phá hủy, các máy bay cua NATO vẫn có khả năng bị bắn hạ bởi các tên lửa cá nhân. Theo một báo cáo của Nga, tổng thống Gaddafi có tời hơn 1000 tên lửa cá nhân loại này, và đã được phân phát cho những kẻ ủng hộ.

Một câu hỏi được đặt ra là vùng cấm bay liệu có thực sự hiệu quả, ngăn chặn được những vụ tấn công thảm sát vào người dân. Tại Bosnia, vùng cấm bay cũng không thể ngăn chặn cuộc thảm sát hơn 7000 người Hồi giáo Bosnia vào năm 1995. Các lực lượng bộ binh, xe tăng … của chính phủ vẫn còn quá lớn mạnh so với lực lượng nổi dậy. Do đó, một số người đã chỉ trích các vùng cấm bay như một biện pháp nửa vời, không ngăn chặn được cuộc chiến. Theo họ, biện pháp duy nhất là Mỹ và các nước phương Tây phải lật đổ chính quyền Gaddafi bằng vũ lực mạnh mẽ.

Tuy nhiên tổng thống Obama trong một bài phát biểu vào tháng 3 năm 2011 cho rằng, những động thái như vậy sẽ vượt quá mục đích của Liên Hiệp Quốc, gây nhiều tổn thất và thương vong, đồng thời sẽ khó có thể nhận được sự đồng thuận của các nước láng giềng. Do đó cho đến hiện nay, các vùng cấm bay vẫn đang được duy trì hoạt động.


Tham khảo: HowStuffWork

Việt Nam chế tạo sơn chịu nhiệt cho động cơ tên lửa

Tổng cục Công nghiệp quốc phòng đã nghiên cứu hoàn thiện công nghệ chế tạo sơn chịu nhiệt, sử dụng cho động cơ tên lửa phòng không tầm thấp, và đạn phản lực.


Nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng, hạn chế việc nhập khẩu, Viện Công nghệ được Bộ Quốc phòng giao chủ trì đề tài “Nghiên cứu công nghệ chế tạo, công nghệ sơn phủ sơn chịu nhiệt, cách nhiệt trong lòng vỏ động cơ tên lửa phòng không tầm thấp và đạn phản lực”.Quá trình chế thử, sản xuất, sửa chữa các loại vũ khí, khí tài quân sự, đặc biệt là động cơ tên lửa phòng không tầm thấp, và đạn phản lực ở các nhà máy quốc phòng cần một lượng lớn sơn chịu nhiệt, cách nhiệt.

Công nghệ có thể áp dụng sản xuất trên quy mô công nghiệp. Sản phẩm sơn chịu nhiệt có các chỉ tiêu kỹ thuật như màu sắc, độ mịn, hàm lượng các chất không bay hơi, độ nhớt, thời gian khô của màng, độ bám dính, độ cứng, khả năng chịu nhiệt của màng sơn, độ bền va đập, độ bền uốn đều đạt yêu cầu.

Sản phẩm sơn chịu nhiệt được sơn trên đạn thật và bắn thử nghiệm. Kết quả bắn, các tham số động học (biến thiên áp suất theo thời gian cháy, thời gian làm việc của động cơ) đều nằm trong vùng sai số cho phép. Kết quả đo nhiệt độ bên ngoài vỏ động cơ của mẫu sơn chế thử và mẫu sơn nhập ngoại tương đương nhau, cho thấy khả năng cách nhiệt của sơn chế thử đạt yêu cầu.

Hội đồng Khoa học và Công nghệ tư vấn đánh giá kết quả đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng nghiệm thu và cho biết, nghiên cứu đạt loại khá.

Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế như các đơn thành phần sơn còn ít; chưa nghiên cứu quy trình công nghệ sơn phủ trên đạn thật mà chỉ dừng lại ở đạn mẫu.

Theo Quân đội nhân dân

Khám phá sát thủ chống ngầm Việt Nam có thể mua

P-3C Orion là một trong những máy bay tuần tra hàng hải chống ngầm tốt nhất thế giới hiện nay mà Việt Nam đang tiến hành đàm phán mua từ Mỹ.



Tuần tra hàng hải đường không và tác chiến chống ngầm là một trong những nhiệm vụ khá nặng nề đối với những quốc gia có đường bờ biển dài và vùng biển rộng lớn như Việt Nam.

Để thực hiện nhiệm vụ này đòi hỏi máy bay phải có tầm hoạt động xa, trang bị nhiều thiết bị trinh sát đường không tiên tiến để phát hiện các tàu ngầm cùng hệ thống vũ khí đủ mạnh để tiêu diệt chúng.

Theo tạp chí quân sự Jane’s Defence Weekly, Việt Nam đang trong quá trình đàm phán với đối tác Mỹ để mua loại sát thủ chống tàu ngầm này trang bị cho Hải quân nhân dân Việt Nam nhằm đảm bảo công tác tuần tra giám sát hàng hải trên vùng biển rộng lớn.


P-3C Orion có chiều dài 35,6 mét, sải cánh 30,4 mét, cao 11,8 mét, trọng lượng rỗng 35 tấn, trọng lượng cất cánh 64,4 tấn, phi hành đoàn 11 người.


Một trong những máy bay hội tụ đủ các yếu tố nói trên là máy bay tuần tra hàng hải kiêm chống ngầm P-3 Orion của Hãng Lockheed Martin Mỹ. Máy bay được phát triển và đưa vào sử dụng trong Không quân Mỹ từ những năm 1960 và xuất khẩu cho nhiều quốc gia khác trên thế giới.

P-3 Orion rất dễ nhận biết bởi chiếc đuôi “quái dị” nơi chứa thiết bị phát hiện từ tính MAD do tàu ngầm di chuyển gây ra. MAD là một “từ kế” dùng để phát hiện sự xáo trội bất bình thường của từ trường trái đất do tàu ngầm di chuyển trong lòng biển gây ra.



P-3C Orion hội tụ nhiều công nghệ đỉnh cao của thế giới trong nhiệm vụ tuần tra hàng hải và chiến tranh chống tàu ngầm, trong ảnh P-3C Orion đang thả phao định vị tàu ngầm.


Tuy nhiên, để tăng khả năng và phạm vi phát hiện tàu ngầm bằng MAD, máy bay cần phải bay ở độ cao thấp. Ngoài ra, để phục vụ cho nhiệm vụ phát hiện tàu ngầmP-3C Orion còn được trang bị các thiết bị điện tử trinh sát tiên tiến khác như: Hệ thống chiến tranh chống ngầm AN/AAR-78 , radar giám sát đa năng AN/APS-137(V).

Đây là một radar khẩu độ tổng hợp với khả năng lập bản đồ mặt đất với độ phân giải cao, radar có thể phát hiện kính tiềm vọng của tàu ngầm ở cự ly khoảng 30km, phát hiện xuồng cứu sinh ở cự ly 60km. P-3C Orion phát hiện ra tàu ngầm bằng cách đo sự biến thiên của từ trường trái đất hoặc phát hiện kính tiềm vọng, thả phao định vị âm thanh AQA-7.

Ngoài ra, P-3C còn có thể phát hiện tàu ngầm qua hệ thống giám sát điện tử ALQ-78 treo ở cánh, hệ thống này sẽ tự động phát hiện các tín hiệu radar do tàu ngầm phát ra và định vị chúng. Nếu thương vụ này thành công sẽ mở ra một cơ hội mới trong hợp tác kỹ thuật quân sự giữa Việt Nam và Mỹ.

Đặc biệt, năm 2005 Lockheed Martin đã giới thiệu gói nâng cấp P-3C Orion block IV với nhiều tính năng ưu việt như: Trang bị hệ thống chiến tranh chống ngầm IBM Proteus AN/UYS-1, radar quét mạng pha điện tử chủ động EL/M-2022 của Israel, bổ sung hệ thống tìm kiếm và chỉ thị mục tiêu hồng ngoại FLIR, hệ thống phát hiện từ trường AN/ASQ-81 nâng cấp.

Về vũ khí chống ngầm, P-3C Orion có thể mang theo ngư lôi Mark-50 hoặc Mark-46, bom sâu, mìn ở trong khoang chứa bên trong thân. Các giá treo hai bên cánh có thể trang bị tên lửa chống hạm AGM-84 Harpoon, tên lửa không đối đất AGM-65 Maverick với tổng tải trọng vũ khí lên đến 9 tấn.

P-3C Orion được trang bị 4 động cơ phản lực cánh quạt Allison T56-A-14 với công suất 4.600 mã lực/chiếc. Hệ thống động cơ này giúp máy bay đạt tốc độ tối đa 750km/h, tốc độ hành trình 610km/h. Máy bay có 5 thùng nhiên liệu bên trong thân và 4 thùng nhiên liệu phụ ở 2 bên cánh với tổng dung tích 34.800 lít.

Lượng nhiên liệu này đủ cho máy bay hoạt động ở cự ly 4.400km ở độ cao 8,9km hoặc 2.490km ở độ cao 1,5km cách mặt nước biển. Thời gian hoạt động liên tục lên đến 14 giờ, như vậy với một lần bay, P-3C có thể thực hiện công việc tuần tra giám sát hàng hải suốt dọc chiều dài đường bờ biển Việt Nam.

Việc đàm phán mua máy bay tuần tra hàng hải chống ngầm P-3C Orion từ Mỹ có thể coi là một lựa chọn rất hợp lý trong việc đáp ứng nhiệm vụ tuần tra hàng hải và chống ngầm trong tình hình mới.

Nga 'cải lão hoàn đồng' báu vật quốc gia

Hải quân Nga quyết định khôi phục tầu ngầm dự án 945 Barracuda có cấu trúc độc nhất vô nhị với thân tầu được làm bằng vật liệu titan. Con tầu titan này được xây dựng từ những năm 1980.

Tầu ngầm titan có độ bền hơn hẳn các thân tầu từ vật liện thép thông thường, đặc biệt nó không “tự hút” các thủy lôi từ tính.

Theo Izvestia dẫn nguồn tin từ Bộ tư lệnh Hải quân Nga, quyết định “cải lão hoàn đồng” dự án Barracuda đã được thông qua vào tháng 1 tại một cuộc họp của tân Tư lệnh lực lượng Hải quân Nga, Viktor Chirkin với các chỉ huy trưởng Hải quân Nga.

Tàu K-276 Kostroma thuộc dự án 945 Barracuda.


“Đây không phải là quyết định tự phát, chúng tôi đã xem xét vấn đề này một cách rất cẩn thận và đưa ra quyết định. Việc khôi phục lại con tàu này hiệu quả hơn nhiều so với việc tái chế”, nguồn tin cho biết.

Hiện nay Hải quân Nga đang được biên chế bốn tàu ngầm hạt nhân titan (không tính tàu ngầm mini dùng cho việc nghiên cứu biển sâu), đó là hai tàu K-239 Karp và K-276 Kostroma thuộc dự án 945 Barracuda và hai tàu ngầm titan hiện đại hóa dự án 945A Condor là K-336 Pskov và K-534 Nizhny Novborod.

“Bia” chính của các tầu thuộc dự án Condor và Barracuda là các tầu ngầm và tầu sân bay đối phương. Vũ khí chính tấn công các “con mồi” là các ngư lôi được phóng đi từ hai ống phóng cỡ 650 mm và 533 mm.


Tàu ngầm thuộc dự án Barracuda neo đậu trên căn cứ hải quân.

Khác biệt với Barracuda, các tầu dự án Condor có thể phóng các tên lửa hành trình mang đầu đạn Garnet. Cả hai loại tàu ngầm titan này đều được trang bị hệ thống tên lửa phòng không Igla và có thể lặn sâu từ 50-600 m.

Cũng theo thông tin trên, bốn tàu ngầm titan đều được biên chế trong Sư đoàn tàu ngầm số 7 của Hạm đội Phương Bắc.

Hợp đồng về sửa chữa hai tàu ngầm đầu tiên đã được ký kết với nhà máy Zvezdochka. Theo đó Zvezdochka sẽ phải thực hiện những công việc sửa chữa và hiện đại hóa các tầu này. Các tầu sẽ được thay thế nhiên liệu hạt nhân, tất cả các thiết bị điện tử và kiểm tra, sửa chữa các bộ phận cơ khí của toàn bộ con tầu. Không những thế, các lò phản ứng hạt nhân cũng nằm trong danh sách phải kiểm tra và tu sửa.


Các tàu kéo đưa tàu ngầm Barracuda xuất cảng.

“Các công việc chính sẽ bắt đầu từ mùa hè năm nay và công việc sửa chữa sẽ kéo dài trong vòng 2-3 năm với các điều kiện thuận lợi. Sau khi hoàn thành công việc sửa chữa tàu K-239 Karp, nhà máy có thể sửa chữa tàu Kostroma”, đại diện của nhà máy Zvezdochka cho biết.

Ông này còn cho biết thêm, không cần quan tâm đến “tuổi tác” của con tàu, bởi vì thân tàu vẫn trong tình trạng “tuyệt vời”. “Titan không giống như thép, nó không bị ăn mòn. Do đó nếu như bạn loại bỏ lớp cao su chống ồn thì thân tầu vẫn còn như mới”, đại diện nhà máy Zvezdochka bổ sung thêm.

Theo thông tin ban đầu, các tàu ngầm mới sẽ nhận được hệ thống sonar, thông tin chiến đấu, hệ thống điều khiển, hệ thống radar mới và hệ thống định vị vệ tinh GLONASS/GPS. Ngoài ra, những con tàu này sẽ thay đổi hệ thống vũ khí với tổ hợp tên lửa hành trình Caliber (Club-S) có thể tấn công các mục tiêu trên đất liền.


Các thủy thủ đứng ngoài boong chiếc K276 Kostroma (thuộc đề án Barracuda).


Sức mạnh của tàu ngầm titan đã được minh chứng trong cuộc thủy chiến diễn ra năm 1992 giữa tàu ngầm hạt nhân Kostroma của Nga và tàu Los Angeles của Mỹ trên biển Barents với chiến thắng thuộc Kostroma, khi đó tàu của Mỹ bị xóa sổ còn Kostroma chỉ bị hư hại nhẹ vùng cabin.

Có lẽ chính vì thế cộng với những tính năng vượt trội của tàu ngầm nguyên tử titan mà chuyên gia quân sự độc lập, Dmitry Boltenkov đã ví các tầu ngầm titan của Nga như là báu vật quốc gia.

Theo Dân Việt

Sau Nga, lính Mỹ cũng sử dụng hệ thống dù kiểu mới

Ngày 29/1/2013, quân đội Mỹ đã tiến hành diễn tập tại căn cứ Fort Bragg trong đó đã sử dụng hệ thống dù nhảy kiểu mới với mã hiệu là T-11.

Ngày 29/1/2013, lực lượng nhảy dù của Biệt đội chiến đấu Lữ đoàn 1, Sư đoàn không vận số 82 của quân đội Mỹ đã tiến hành một cuộc diễn tập tại căn cứ Fort Bragg trong đó đã sử dụng hệ thống dù nhảy kiểu mới với mã hiệu là T-11.





Lực lượng trực dưới mặt đất







Lính Mỹ nhảy dù từ vận tải cơ C-130







Hệ thống dù mới của Mỹ T-11







Những thông tin ban đầu cho hay, dù nhảy T-11 là thiết kế đã được quân
đội Mỹ thử nghiệm, loại dù này có khả năng vận hành cả khi thời tiết có
gió rất to...







...giảm thiểu khả năng đi lệch đường và đảm bảo an toàn cho lính không vận.







Trước đó, Nga cũng đã thử nghiệm thành công dù nhảy T-11







Hệ thống dù nhảy T-11 được coi là ưu việt nhất







Cuộc diễn tập của lính dù Mỹ diễn ra thành công







Quá trình thử nghiệm cho thấy tính ưu việt của hệ thống này







Trong tương lai, Mỹ sẽ đưa hệ thống dù T-11 vào sử dụng

Bảo bối phòng không Nga và nghệ thuật chiến tranh Việt Nam

Từ cuộc Đại chiến thế giới lần thứ II và chiến tranh Việt Nam đã chỉ rõ: Hệ thống phòng không có hùng mạnh, có hiệu quả tác chiến cao là một trong những tính chất cơ bản của khả năng phòng thủ đất nước của mỗi quốc gia.

Những cuộc chiến tranh, xung đột khu vực, can thiệp vũ trang gần đây cho thấy, các lực lượng quân sự thù địch đã sử dụng mô hình tác chiến đường không với lực lượng bạo loạn, lật đổ, khủng bố như môt chiến lược tác chiến cơ bản để thực hiện những âm mưu xâm lược.

Sự đánh giá không chính xác về khả năng phòng không của Liên bang xô viết những năm đầu 1939 – 1940 trong cuộc chiến tranh vệ quốc Vĩ đại của Liên bang Xô viết đã dẫn đến khả năng thông trị bầu trời của quân đội phát xít và gây ra những tổn thất rất lớn cho lực lượng Hồng quân.

Và dù cho quân đội Mỹ có lực lượng không quân hùng hậu, vũ khí trang bị hiện đại, nhưng hệ thống phòng không nhân dân hiệu quả của phòng không Việt Nam là một trong những nhân tố đưa đến sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn.

Trong bức thư gửi tổng thống Mỹ T.Ruzvelt. được viết trong những ngày chiến đấu khốc liệt bảo vệ thành phố Staningrad 1942. Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang xô viết Stalin đã nhận xét: "Thực tế chiến trường cho thấy, những đội quân dũng cảm nhất cũng trở thành không có khả năng tác chiến, nếu như họ không được bảo vệ trước những đòn tấn công đường không”.

Kết quả của việc nâng cao khả năng tác chiến của bộ đội phòng không bằng vũ khí, trang thiết bị hiện đại đã tiêu diệt hơn 2000 máy bay, hơn 1000 xe tăng xe thiết giáp và pháo tự hành, tiêu diệt hàng chục nghìn binh sỹ và sỹ quan phát xít bằng chính hỏa lực phòng không.

Trong cuốn sách nổi tiếng ( Suy nghĩ và nhớ lại ) của nhà quân sự kiệt xuất Liên Xô, nguyên soái G.K. Giucốp đã viết: " Tổn thất sẽ vô cùng nặng nề sẽ đến với bất cứ quốc gia nào không có khả năng ngăn chăn và đánh trả những đòn tấn công đường không” và nhận xét đó được khẳng định bới E. Lampe, tư lệnh lực lượng phòng không nhân dân của Cộng hòa Dân chủ Đức đến năm 1956 trong cuốn sách " Chiến lược phòng thủ dân sự” là: " Tất nhiên, với PVO chưa đủ để chiến thắng trong chiến tranh, nhưng nếu không có lực lượng PVO đủ mạnh thì thất bại đã cầm chắc.

Hệ thống phòng không không quân của Việt Nam đã chứng minh tính hiệu quả qua việc bắn hạ hàng ngàn máy bay Mỹ, đặc biệt là những trận đánh lừng lẫy đi vào lịch sử như 'Điện Biên Phủ trên không' năm 1972.

Lực lượng phòng không-không quân Việt Nam ngày nay kế thừa kinh nghiệm truyền thống hào hùng và là một trong những quân binh chủng được xác định tiến thẳng lên hiện đại. Bên cạnh các trang thiết bị thế hệ trước như tên lửa SAM-2, Pechora S125 cải tiến, tên lửa Strela 10, tổ hợp phòng không di động Zu-34, tên lửa vác vai Igla...quân đội Việt Nam đã được trang bị hệ thống tên lửa tầm xa hiện đại S-300 PMU1.

Các nguồn tin quân sự Nga đã nói đến khả năng Việt Nam tiếp tục bổ sung sức mạnh cho hệ thống phòng không quốc gia với việc mua sắm các tổ hợp tên lửa S-300 PMU2++, S-400 Triumph tầm xa đầy uy lực, cũng như trang bị thêm các tổ hợp phòng không tầm gần và phòng không di động cấp chiến thuật như tổ hợp pháo - tên lửa di động Panshir, Buk hay Tor...

Trên một số diễn đàn quốc phòng gần đây cũng đã thông tin về việc Việt Nam đã đưa nhân sự đi đào tạo chuyển loại và tiếp nhận một loạt các loại vũ khí phòng không hiện đại của Nga. Tiền Phong trân trọng giới thiệu bài viết phân tích về sức mạnh các loại trang thiết bị phòng không của Liên bang Nga cũng như sự phát triển của học thuyết phòng không trong bối cảnh tình hình thế giới hiện nay.

Trong giai đoạn phát triển vượt bậc của vũ khí công nghệ hiện đại trong tác chiến đường không, các thế lực quân sự trên thế giới đã coi tác chiến trên không, trên biển là mô hình tác chiến chủ đạo trên chiến trường, vũ khí tác chiến được triển khai trên mọi tầm cao khác nhau, từ vài chục mét so với mặt đất như tên lửa hành trình có cách, máy bay trực thăng chiến đấu, máy bay không người lái ( robot) đến các tầm cao hàng trăm km của các vệ tinh nhân tạo.

Với tấn công ngoài đường chân trời, từ vài chục km đến hàng nghìn km, khả năng tàng hình, định vị vệ tinh và dẫn đường bằng các thiết bị GPS, được trang bị vũ khí có độ chính xác rất cao, sức công phá lớn và khả năng mang từ đầu nổ hạt nhân đến bom chùm casset, nhiệt áp. Tác chiến đường không đang trở thành mối nguy hiểm, đe dọa mọi quốc gia trên thế giới. Bài toán đặt ra, liệu các lực lượng phòng không của Liên bang Nga có đủ khả năng ngăn chặn mọi cuộc tấn công của các đối thủ tiềm năng?







Hệ thống phòng thủ tên lửa(PRO) và hệ thống phòng không (PVO) được xây dựng để thực hiện nhiện vụ chiến đấu với mọi vũ khí, trang thiết bị, phương tiện mang tấn công từ trên vũ trụ và trên không.

Các mục tiêu bao gồm cả: Tên lửa đạn đạo các tầm bắn được trang bị phóng trên mặt đất và trên biển; Các phương tiện bay bao gồm máy bay chiến đấu, máy bay trực thăng, các phương tiện bay tự động không người lái (robots và các loại tên lửa chiến trường và tên lửa hành trình có cánh) thực hiện các nhiệm vụ chiến dịch và chiến thuật.





Phân vùng tác chiến của lực lượng phòng không Liên Bang Nga.



Trong điều kiện tác chiến hiện đại hiện nay và tương lai gần, để có thể phát huy tối đa sức mạnh của lực lượng phòng không Liên bang Nga chống lại các nguy cơ đe dọa từ phía bên ngoài (sự mở rộng của NATO, việc triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo sát biên giới Liên bang Nga và các nước đồng minh, sự phát triển vượt bậc của hải quân, không quân Trung Quốc, bộ tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên bang đã đưa ra chương trình phòng thủ không gian (VKO), bao hàm phòng thủ vũ trụ - phòng thủ tên lửa (RKO), phòng không PVO và chiến tranh điện tử(REB). Được Tổng thống Liên bang Nga ký vào năm 2006

Hệ thống phòng không là lực lượng nòng cốt của chương trình phòng thủ không gian VKO. Trong điều kiện thời bình, lực lượng phòng không làm nhiệm vụ trực sẵn sàng chiến đấu bảo vệ không gian lợi ích của nước Nga và sẵn sàng đánh chặn mọi khả năng tấn công bất ngờ của các lực lượng thù địch vào các mục tiêu có ý nghĩa quan trọng trong quốc giá và trong lĩnh vực quốc phòng an ninh.

Trong điều kiện xảy ra chiến tranh, xung đột, các hoạt động có tính khủng bố, tùy theo quy mô tình huống, từ giờ phút đầu tiên, toàn bộ chương trình hệ thống sẽ từ trực chiến chuyển sang sẵn sàng chiến đấu toàn bộ, phối hợp với các lực lượng khác như không quân, tên lửa chiến lược tiến hành đấu tranh với đòn tiến công đường không của lực lượng thù địch.

Kinh nghiệm của 11/9 cho thấy, các đòn tiến công hiện nay có thể xảy ra bất cứ lúc nào, bất cứ hình thức nào và thậm chí, bất cứ lực lượng hay mô hình tác chiến nào. Hiện nay, lực lương phòng không bao gồm, lực lượng phòng không tên lửa quốc gia, lực lượng phòng không quốc gia, lực lượng phòng không chiến trường và lực lượng phòng không hải quân. Trong điều kiện chiến tranh tổng lực, lực lượng phòng không nói chúng sẽ bao hàm cả lực lượng tiêm kích, cường kích đánh chặn của Không quân và Hải quân.

Hiện nay, lực lượng phòng không tên lửa Liên Bang Nga bao gồm các tổ hợp tên lửa và các hệ thống tên lửa có tầm chiến đấu khác nhau với hiệu quả chiến đấu rất cao ( S-75; S-125; S-200; S-300 và S-400)


SAM -2 Volga S75.

Tên lửa phòng không S-75 Volga (ЗРК С-75 "Волга") tên lửa phòng không tầm trung, dàn tên lửa phòng không đầu tiên của Liên bang Xô viết. Tên lửa Vonga đã tham gia nhiều chiến trường và thể hiện xuất sắc khả năng tác chiến của nó. Bắn hạ máy bay trinh sát RB-57D của Đài Loan ở khu vực Bắc Kinh, bắn hạ máy bay trinh sát tầm cao U-2 Lockheed trên bầu trời Sverdlovsk 1.05.1961, trung Quốc tháng 9 năm 1961, Cuba 27.10.1962. Hơn 500 tổ hợp tên lửa đã được xuất khẩu sang các nước và rất nhiều tổ hợp Vonga đã hoàn thành xuất sắc tại Trung Đông, Việt Nam, Vịnh Persian và khu vực Bai cal

Ngoài chiến thắng rực rỡ của tên lửa tại chiến trường Việt Nam, Vonga cũng bắn hạ một số máy bay trong xung đột Ấn độ, Pakistan, bắn rơi máy bay trinh sát RB-57F của Mỹ tại Biển Đen ( tháng 11 năm 1965) 25 máy bay trong chiến tranh Arap – Ixraen. Tên lửa tham gia chiến trường Angola chống lại Nam Phi,, chiến trường Iraq và đánh tiêu diệt các máy bay trinh sát SR-71 trên không phận của Trung Quốc và Cuba.

Tên lửa phòng không S-125 Pechora ЗРК С-125 "Печора" tên lửa tầm gần được chế tạo để chiến đấu chống lại các phương tiện bay tầm thấp. Tổ hợp tên lửa Pechora thể hiện hiệu quả và độ tin cậy rất cao trong khai thác sử dụng, 530 tổ hợp được sản xuất. Pechora có mặt ở 35 nước khác nhau và tham gia vào rất nhiều các cuộc xung đột và chiến tranh cục bộ.

Tên lửa được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1970 trên bán đảo Sinai, trong các chiến dịch phòng không đã bắn hạ 8 máy bay và làm bị thương 3 chiếc khác của Ixraen. Tổ hợp tên lửa Pechora được sử dụng ở Iraq trong chiến tranh Iran- Iraq 1980 – 1988. được sử dụng chống lại cuộc tiến công của không quân liên quân năm 1991. Syria cũng sử dụng tổ hợp tên lửa này để chống lại không quân Ixraen trong cuộc khủng hoảng Lebanon 1982.

Lybia chống lại máy bay Mỹ trong xung đột tại vùng Vinh Sidra và Secbia trong cuộc chiến Cosovo chống lại lực lượng không quân NATO, theo báo chí Yugoslavia chính tổ hợp này đã bắn hạ 1 máy bay tàng hình F117 và làm bị thương 1 máy bay F117 khác.


S-200 Vega.

Hệ thống tên lửa S-200 Vera ЗРС С-200 "Вега" Tên lửa phòng không tầm xa được sử dụng để tiêu diệt các phương tiện bay trên tầm bắn hơn 100 km và độ cao đến 40 km. Hệ thống tên lửa được biên chế trong lực lượng phòng không các nước như Đông Âu, Trung Quốc, Lybia, Syria, Iran.

Sau khi bắn rơi máy bay chỉ huy của Ixrael E-2C Hawkeye ở tầm xa 180 km ( Syria 1982), tầu sân bay của Mỹ đã rút lui khỏi khu vực bờ biển của Libang. Tháng 3 năm 1986. Tên lửa S-200 đã bắn hạ 3 máy bay cường kích A-6 và A 7 trong hạm đối 6 của Mỹ. Dù phía Mỹ không công nhận nhưng thực tế máy bay bị bắn hạ đã được các chuyên gia quân sự Liên Xô xác nhận.


S300PMU1 Favorite.

Hệ thống tên lửa S-300ЗРС С-300 tầm trung và tầm xa, phụ thuộc vào các biến thể của nó, được sử dụng để tiêu diệt các phương tiện bay có người lái và không có người lái, đồng thời các máy bay robot, tên lửa hành trình.

Một thời gian rất dài hệ thống S-300 đã trực chiến và bảo vệ bầu trời Maxcova và những khu vực kinh tế, quân sự quan trọng của Liên bang Nga. Model nâng cấp và cải tiến mới nhất của hệ thống là S-300 PMU2 "favorite” đã nhiều lần được trưng bầy và biểu diễn tại các triển lãm vũ khí trang bị quân sự hiện đại và được đánh giá rất cao. Hệ thống tên lửa S-300 được xuất khẩu sang Trung Quốc, Việt Nam và nhiều nước khác.


Hệ thống đạn tên lửa S-400 Triumph.
Hệ thống điều khiển tên lửa S-300 - S400.

Hệ thống tên lửa S-400 Triumph ЗРС С-400 "Триумф" là hệ thống tên lửa tầm xa, sự phát triển thế hệ mới của tên lửa S-300. Hệ thống có khả năng tiêu diệt tất cả các phương tiện bay với tầm bắn đến 400km, khả năng tiêu diệt các tên lửa đạn đạo có tầm bắn đến 3500km, có khả năng tiêu diệt các phương tiện tấn công hàng không với tốc độ siêu thanh và tất cả các phương tiện tấn công đường không hiện đại trong tương lai.

Hệ thống tên lửa S-400 theo kết quả thực nghiệm cuối năm 2006, đã vượt tất cả nhưng hệ thống tên lửa phòng không hiện đai khác và được đưa vào biên chế cho lực lượng vũ trang Liên bang Nga, S-400 và S-300 PMU2 có kế hoạch được xây dựng để trở thành hệ thống chống tên lửa đạn đạo và thực hiện nhiệm vụ phòng thủ chiến trường, thực hiện những nhiệm vụ tầm chiến dịch bảo vệ các lực lượng vũ trang liên bang.


Tổ hợp pháo tên lửa phòng không Panshir-1C trên các thân xe.

Tổ hợp tên lửa- pháo phòng không Pansir-C1 "Панцирь-С1" là tổ hợp phòng không tầm thấp, có nhiệm vụ bảo vệ phòng không chống lại các mục tiêu có diện tích nhỏ nhưng có ý nghĩa quan trọng về quốc phòng hoặc kinh tế chính trị quốc gia trong mọi điều kiện thời tiết và trong mọi điều kiện chiến tranh điện tử, khả năng tác chiến ngày đêm.

Tính năng kỹ chiến thuật của tổ hợp bảo đảm tác chiến có hiệu quả với mọi mục tiêu máy bay chiến đấu, máy bay trực thăng, tên lửa hành trình và các loại bom đạn tấn công có độ chính xác cao từ trên không. Tổ hợp Pansir-C1 đã vượt qua thử nghiệm quốc gia. Tổ hợp Pansir-1 đã có đơn đặt hàng của UAE ( Các tiểu vương quốc Arap thống nhất) và Syria


Lực lượng phòng không chiến trường có nhiệm vụ đánh chặn những đòn tấn công bất ngờ từ trên không, trực sẵn sàng chiến đấu và tăng cường năng lực tác chiến trong thời bình.

Trong thời gian chiến tranh, cùng với lực lượng không quân và các loại vũ khí trang bị hiện đại, yểm trợ các lực lượng tham gia chiến trường và bảo vệ căn cứ, địa điểm đóng quân và các vị trí quân sự, các phương tiện trang bị quân sự trên địa bàn đóng quân, cơ động di chuyển, từ khi bắt đầu chiến tranh và xuyên xuốt quá trình chiến đấu của các binh đoàn quân binh chủng hợp thành.

Với lực lượng phòng không chiến trường, nòng cốt là binh chủng phòng không chiến trường, bao gồm các đơn vị phòng không của Lục quân, các đơn vị phòng không bờ biển của Hải quân và các đơn vị phòng không của bộ đội đổ bộ đường không.

Trong giai đoạn ngày nay, vũ khí trang bị của các đơn vị phòng không chiến trường gồm có: tổ hợp tên lửa phòng không Oka-AKM, Strela-10, Buk, hệ thống tên lửa S-300V, Tor, Tổ hợp tên lửa – pháo phòng không Tugunska, đồng thời với các ống phóng tên lửa phòng không Igla với các biến thể của chúng.

Hàng loạt những loại vũ khí này được xuất khẩu và được biên chế vào các đơn vị phòng không của các lực lượng vũ trang nước ngoài và đã chứng minh được hiệu quả chiến đấu của các loại vũ khí này trong các trận đánh.

Tính năng kỹ chiến thuật của các tổ hợp tên lửa phòng không và tên lửa – pháo phòng không chiến trường.



Tổ hợp tên lửa pháo chiến trường Tugunska.

Trong các cuộc triển lãm vũ khí phòng không hiện đại chống tên lửa đạn đạo và tên lửa hành trình. Các tổ hợp vũ khí phòng không đã thể hiện những tính năng chiến đấu xuất sắc nhất và cạnh tranh đầy tự tin với các tổ hợp tên lửa chiến trường của các nước công nghiệp phát triển.

Hệ thống Tor-1 và Buk M1 không có loại vũ khí tương đương. Hướng phát triển tương lai của các tổ hợp, hệ thống vũ khí phòng không tích hợp đa chức năng và chế tạo những tổ hợp, hệ thống phòng không mới, đa dụng và có khả năng tác chiến đa tầm.

Tổ hợp tên lửa chiến trường Buk-M2.



Hệ thống tên lửa Buk-M2 ЗРК "Бук-М2" là hệ thống tên lửa tầm trung của cấp sư đoàn bộ binh cơ giới hoặc quân binh chủng hợp thành. Quá trình hiện đại hóa và nâng cấp tên lửa đã nâng tầm bắn của tên lửa từ 32 km lên đến 45 km.

Tầm cao tên lửa từ 22km lên đến 25 km và tốc độ bay của tên lửa từ 830 m/s lên đến 1100m/s. Trong cùng một lúc, một tiểu đoàn tên lửa chiến trường có thể phóng đồng thời từ 6 – 24 rãnh đạn.

Tên lửa chiến trường BUK-M3.

Hệ thống tên lửa Buk-M3 ЗРК "Бук-М3" là sự phát triển nâng cấp tiếp theo của hệ thống và được biên chế trong quân đội Liên Bang vao năm 2009. Như một thành phần vũ khí trong hệ thống phòng không chiến trường.

Để có thể ngăn chặn hiệu quả, việc nâng cấp Buk-M3 đã được tính toán để có thể đánh chặn hiệu quả các loại vũ khí, phương tiện tấn công đường không được sáng chế, cải tiến hay nâng cấp trong vòng từ 12 – 15 năm tới. Buk-M3 có khả năng tiêu diệt mọi mục tiêu trên không, hoạt động với vận tốc lên đến 3000m/s trong tầm khoảng cách từ 2,5 km đến 70 km và tầm cao với tới của tên lửa từ 0.015m đến 35 km.

Theo thông số này thì tất cả các loại tên lửa, máy bay tầm thấp như Tomahawk, B-2 hoặc các loại máy bay robot ( predator) không có khả năng thoát hiểm.


Tổ hợp tên lửa chiến trường Tor-M2.

Hệ thống tên lửa tầm gần Tor-M2 ЗРС "Тор-М2" là hệ thống tên lửa trang bị cho tiểu đoàn pháo phòng không nằm trong đội hình trung, lữ đoàn bộ binh cơ giới hoặc hợp thành. So với các thông số kỹ chiến thuật như chiều sâu và chiều rộng cũng như tầm cao tên lửa, thời gian phóng tên lửa và cơ số tên lửa gấp 2 lần só với Tor và Tor – M1 Hệ thống có khả năng tiêu diệt mọi mục tiêu trên không với tốc độ bay đến 900m/s trên tầm bắn từ 1-20 km, tầm bay cao của mục tiêu là 0,01 – 100 km. Một xe tự hành tên lửa có khả năng tấn công cùng một lúc 4 mục tiêu.


Tổ hợp tên lửa Bagunhik.

Vào năm 2008 lực lượng vũ trang Liên bang Nga có kế hoạch biên chế trang bị xe phòng không tự hành Bagunnhik và tên lửa vác vai Verba trong đội hình chiến đấu của Trung đoàn, Bagunnhik được biên chế để thay thế tổ hợp Strela-10, tên lửa có đầu dẫn laser có thể tiêu diệt các mục tiêu có tốc độ đến 700m/s với tầm cao 1km tầm xa là 10 km, với tầm cao là 0,01 km tầm bắn là 5 km.


Tên lửa vác vai Verba.

Tên lửa vác vai Verba là tên lửa có 3 dài tần có đầu đạn tự dẫn quang ảnh nhiệt, được chế tạo để thay thế tên lửa vác Strela -1 và Igla với mọi biến thể. Tổ hợp tên lửa vác vai Vebra hơn hẳn các loại trước đó với các thông số kỹ chiến thuật; tầm bắn là 0,5 – 6,4 km) tăng 20%, tầm cao hiệu quả là 0,01 km đến 4,5 km tăng 30%, tốc độ mục tiêu đến 500m/s tăng 20%. Thời gian chuẩn bị bắn không quá 8s, khối lượng đầu đạn tăng 20% nặng 1,5 kg.

Để tăng cường khả năng chiến đấu đồng thời kéo dài thời gian khai thác sử dụng, các hệ thống vũ khí trang bị phòng không quốc gia và các hệ thống vũ khí trang bị phòng không chiến trường được nâng cấp, đưa vào ứng dụng các công nghệ hiện đại hơn như công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ vật liệu và công nghệ điều khiển học.

Kết quả là 450 hệ thống tên lửa phòng không BM Oka-AKM xuất xưởng những năm 1976 - 1986 một trong những tổ hợp tên lửa phòng thủ chiến trường mạnh của quân đội Xô Viết được nâng cấp, tự động hóa quá trình tìm kiếm mục tiêu, bám và định vị mục tiêu, khai hỏa tên lửa, hệ thống được bảo vệ chống nhiễu radar.

Đến năm 2009 hơn 100 hệ thống tên lửa BM Oka-AKM được nâng cấp và tiếp tục kéo dài thời gian phục vụ. Những hệ thống tên lửa phòng không nâng cấp từ khi còn Liên bang xô viết được sự quan tâm rất lớn của những khách hành tiềm năng do đã được làm quen và sử dụng thành thạo những tính năng kỹ chiến thuật của trang bị.

Hệ thống phòng không của Hải quân thông thường là hệ thống phòng không chiến trường được lắp đặt trên các hạm tầu. và sau khi đã cải tiến và nâng cấp phù hợp, trở thành các cụm hỏa lực phòng không trên biển.



Đổi mới và tăng cường sức mạnh các lực lượng vũ trang, Liên bang Nga thực sẽ từng bước làm thay đổi cơ cấu tổ chức, vũ khí trang bị và khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng phòng không quốc gia.


Hệ thống S-300V bảo vệ hạm đội.

Tính đến thời điểm hiện nay, trong biên chế của lực lượng phòng không và phòng thủ vũ trụ quốc gia, số lượng vũ khí trang bị đáp ứng yêu cầu bảo vệ hiệu quả các mục tiêu quan trọng về kinh tế và quốc phòng của đất nước còn thiếu.

Để có thể bảo vệ vững chắc không phận của Liên bang, đồng thời sẵn sàng cho mọi tình huống, hướng phát triển chủ yếu là đẩy nhanh tốc độ thay thế các hệ thống tên lửa bằng các hệ thống tên lửa đã được chứng minh tính hiệu quả của nó, biên chế hệ thống tên lửa đã được nâng cấp S-300 PM với mục đích đánh chặn và tiêu diệt các đòn tấn công của các loại tên lửa chiến thuật chiến trường, đồng thời đưa vào sử dụng tên lửa chiến trường hệ thống tên lửa S-300V.

Để giữ gìn và tăng cường sức mạnh của lực lượng phòng không chiến trường, cần phải duy trì các sư đoàn phòng không, các trung đoàn phòng không đặc chủng và các tiểu đoàn phòng không song hành với việc từng bước thay thế và tăng cường sức mạnh của các đơn vị, đẩy nhanh tốc độ thay thế vũ khí trang bị thế hệ mới, hoàn thiện cơ cấu tổ chức chỉ huy và điều hành tác chiến.

Kinh nghiệm của chiến tranh hiện đại đã và đang xảy ra cho thấy, để bảo vệ trước những đòn tấn công, cần xây dựng các lớp phòng thủ của hệ thống phòng không nhiều tầng, nhiều lớp của các loại vũ khí trang bị phòng không các tầm khác nhau.

Đủ khả năng đánh chặn mọi đòn tấn công từ trên vũ trụ trên không, các tên lửa, bom điều khiển và các loại vũ khí chính xác khác.

Vì vậy, trong hoàn cảnh phức tạp của những biến động quốc tế, các nước và các liên minh quân sự đang từng bước nâng cao số lượng và tính năng kỹ chiến thuật của vũ khí hiện đại, đó chính là nguyên nhân phải phát triển phương thức và cách thức tiến hành các cuộc đâu tranh chống lại các phương tiện chiến tranh hiện đại đó.

Dó đó, các quốc gia nếu muốn bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập, thì sức mạnh lực lượng phòng không trong hiện tại và tương lai là một trong những yếu tố quyết định sức mạnh bảo vệ Tổ quốc.

Tàu ngầm Kilo Việt Nam sẽ vượt trội Kilo Trung Quốc

Hai tàu ngầm Project 636 (lớp Kilo) đầu tiên, được đóng cho Hải quân Việt Nam, sẽ được gửi tới khách hàng trong năm 2013.

RIA Novosti trích dẫn lời phỏng vấn của ông Andrey Baranov, Phó tổng giám đốc phụ trách kinh tế đối ngoại và hợp tác kỹ thuật quân sự với nước ngoài của Viện thiết kế và đóng tàu Rubin cho biết hôm 16/2.

Ông Baranov nhắc lại rằng, trong tháng 12/2009, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã ký một hợp đồng đặt hàng 6 tàu ngầm Project 636 của Nga với số tiền khoảng 2 tỷ USD. Hợp đồng này sẽ được hoàn thành vào năm 2016.

Hai tàu ngầm Kilo đầu tiên sẽ được Nga bàn giao cho Việt Nam trong năm nay.


"Hai tàu ngầm Kilo đầu tiên đã được hạ thủy trong năm 2012, chiếc đầu tiên đang thử nghiệm gần Kaliningrad. Trong năm 2013, hai tàu ngầm này sẽ được chuyển giao cho khác hàng. Đây sẽ là một sự kiện rất quan trọng, thu hút sự chú ý của thế giới", ông Baranov nhấn mạnh.

Theo lời của ông này, trong năm 2013, sẽ có thêm 2 chiếc tàu ngầm Kilo (thứ ba và thứ tư) của Việt Nam cũng sẽ được hạ thủy.

Ông Baranov lưu ý rằng, tàu ngầm Project 636 được cung cấp cho một khách hàng nước ngoài, có sự khác biệt đáng kể so với tàu ngầm Project 877 EKM mà Nga đã rất thành công trong việc xuất khẩu ra nước ngoài từ những năm 1980. Biến thể cũ của Project 877 EKM đã được Trung Quốc mua và biên chế trong hải quân nước này. "Cấu trúc của tàu cũng như các đặc điểm kỹ thuật vẫn được giữ kín, nhưng "hạt nhân" là các thiết bị điện tử và hệ thống đảm bảo sự sống cho thủy thủ đoàn, nói chung là rất hiện đại", ông Baranov nói.

Tàu ngầm Kilo 636 có lượng giãn nước 3.100 tấn, tốc độ 20 hải lý/giờ, lặn sâu đến 300 m, thuỷ thủ đoàn gồm 52 người. Vũ khí của tàu gồm ngư lôi 533 mm với sáu ống phóng, mìn, tên lửa hành trình Kaliber.

Adolf Hitler

Adolf Hitler (sinh 20 tháng 4 năm 1889 tại Braunau am Inn – tự sát ngày 30 tháng 4 năm 1945) là chủ tịch Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa (Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei, viết tắt NSDAP) từ năm 1921, Thủ tướng Đức từ năm 1933, là "Lãnh tụ và Thủ tướng đế quốc" (Führer und Reichskanzler) kiêm nguyên thủ quốc gia nắm quyền Đế quốc Đức kể từ năm 1934.



Ông kiến lập chế độ độc quyền quốc gia xã hội của Đệ tam Đế quốc, cấm chỉ tất cả các đảng đối lập và bức hại các đối thủ chính trị. Ông đã khởi phát Đệ nhị thế chiến, thúc đẩy một cách có hệ thống quá trình tước đoạt quyền lợi và sát hại khoảng sáu triệu người Do Thái châu Âu cùng một số nhóm chủng tộc, tôn giáo, chính trị khác, được gọi là cuộc Đại đồ sát dân Do Thái (Holocaust).

Tiểu sử

Hầu như tất cả các nhà viết tiểu sử Hitler đều nhấn mạnh sự khác nhau rất rõ giữa hai phần đời của ông. Đoạn đời trước tuổi ba mươi của ông, nếu so với mức bình dân thời đó chỉ được xem là khoảng đời không thành đạt, bởi Adolf Hitler không được đào tạo nghề nghiệp, không có mối quan hệ nào đáng kể, sau thất bại của nước Đức trong Thế chiến thứ nhất ông là một người lính không có triển vọng và hơn hết là ông không có những cá tính đặc thù để có thể giải thích một cách thuyết phục được sự thăng tiến sau đó của mình. Mặc dù vậy, nhân vật này chỉ trong vòng vài năm đã bước lên ngôi Thủ tướng Đức và cuối cùng, đã trở thành người cầm quyền độc tài, cai trị phần lớn châu Âu. Adolf Hitler là một trong số ít các nhân vật trong lịch sử nhân loại đã phát huy một năng lực hủy hoại hiếm thấy.

Gia thế

Hitler luôn giữ bí mật gia thế và cuộc sống của mình trước khi tham gia chính trị. Ông nói các đối thủ chính trị của mình vào năm 1930: "Họ không được biết tôi từ đâu đến và xuất xứ từ gia đình nào" (nguyên văn tiếng Đức "Sie dürfen nicht wissen, woher ich komme und aus welcher Familie ich stamme"). Vào năm 1938, ngay sau khi sáp nhập Áo vào Đức, chính Hitler đã ra lệnh tản cư và sau đó san bằng các ngôi làng Döllersheim và Strones, là hương quán của ông bà cũng như bố mẹ ông nằm tại Waldviertel, khu vực phía Tây Bắc của tiểu bang Hạ Áo (Niederösterreich), để xây một doanh trại đào tạo lính (Allentsteig). Theo Krockow, Kershaw và những nhà viết tiểu sử Hitler, nguyên nhân có thể là những bí ẩn của khả năng loạn luân trong gốc gác của Adolf Hitler. Tự chuyện Mein Kampf (Cuộc tranh đấu của tôi) của Adolf Hitler được nhiều học giả đánh giá là một nguồn thông tin không tin cậy về cuộc đời của ông, vì nó mang nhiều bịa đặt và nhiều nhận định thổi phồng.

Gia đình Hitler có gốc từ vùng Waldviertel, Hạ Áo, cạnh biên giới với Tiệp Khắc. Nguồn gốc của dòng họ Hitler không được rõ và trong thế kỷ 19 cách viết họ này còn thay đổi lẫn nhau giữa Hüttler, Hiedler và Hitler.

Adolf Hitler là người con thứ tư trong sáu người con của Alois Hitler, một viên chức hải quan với Klara, người vợ thứ ba gốc Áo và cũng là cháu gái cột chèo hệ thứ hai của Alois Hitler. Trong sáu người con này thì chỉ Adolf Hitler và em gái là Paula sống đến tuổi thành niên. Alois Hitler còn có một con trai ngoại hôn, Alois Hitler junior và một con gái từ đời vợ thứ hai. Trong tự truyện "Cuộc tranh đấu của tôi", Hitler miêu tả bố mình là một người chuyên quyền, nóng tính. Nhưng thực thế, không có một bằng chứng nào cho thấy Alois Hitler giáo dục con mình nghiêm khắc hơn với mặt bằng xã hội thời đó.

Cha của Adolf Hitler là con trai ngoài giá thú giữa một cô gái nhà nông, bà Anna Maria Schicklgruber và ông Johann Georg Hiedler, người không bao giờ công nhận đứa con này. Sau một khoảng thời gian lâu sau khi cha mẹ mất, vào năm 1876 khi được 40 tuổi Alois đổi họ thành Hitler, việc mà Adolf Hitler luôn đề cao ở cha mình. Nepomuk, em trai của Johann Georg Hiedler đã tuyên thệ tại văn phòng công chứng, rằng anh mình, chồng kế của bà Anna Maria Schicklgruber là cha của Alois.

Klara Hitler, mẹ của Adolf Hitler
Có thể kết luận rằng Hitler không biết chắc ai là ông nội của mình. Đây là một vấn đề nguy hiểm, có thể đe dọa vị trí chính trị của Hitler, một chính trị gia ngày càng được nhiều người biết đến từ thập niên 1920 nhờ các tuyên truyền ý thức hệ chủng tộc của ông. Các đối thủ chính trị của Hitler lúc đó cũng đã cố tìm cách chứng minh rằng người lãnh đạo tối cao của đảng Quốc xã, Adolf Hitler lại chính là người có gốc gác Do Thái hoặc người Séc. Theo những kết quả nghiên cứu hiện nay, việc này khó có thể là sự thật và những lời đồn đại này chưa từng được chứng minh rõ ràng. Nhưng đối với Hitler, các vấn đề này rất có thể là nguyên nhân bắt ông ra sức che dấu lí lịch của mình.

Vào năm 1895 ở tuổi 58 cha ông nghỉ hưu, khi đó Adolf Hitler được sáu tuổi, ông theo học một trường công lập ở gần thị trấn Linz, nước Áo. Đến năm 11 tuổi, ông học trường trung học ở Linz. Cha ông hy sinh về mặt tài chính vì con và trông mong Adolf Hitler sẽ trở thành một công chức, nhưng ông luôn chống lại ý tưởng này một cách quyết liệt. Ông kể trong quyển "Cuộc tranh đấu của tôi": "Tôi không muốn trở thành công chức, không, nghìn lần không... Tôi... ớn đến tận cổ với ý nghĩ ngồi trong một văn phòng, đánh mất mọi tự do; không còn làm chủ cho thời gian của mình..."

Điểm học của Adolf Hitler ở trường trung học Linz kém đến nỗi ông phải chuyển qua học trường công lập ở Steyr. Ông chỉ theo học trường này một thời gian ngắn rồi bỏ dỡ, trước khi học xong chương trình. Thất bại ở trường học dày vò Hitler trong đoạn đời về sau, khi ông dùng nhiều từ nhục mạ để nói về những người thầy dạy mình ở trường học thời tuổi nhỏ. Sau này Hitler giải thích, một trong những nguyên do khiến ông học hành kém cỏi, rồi cuối cùng bỏ học là vì muốn chống lại ý muốn của cha ông: "Tôi nghĩ rằng khi cha tôi thấy tôi không tiến bộ ở trường học, ông sẽ cho tôi dồn thời gian vào giấc mơ của tôi, dù cho ông thích hay không."

Alois Hitler qua đời năm 1903, hưởng thọ 65 tuổi khi Adolf Hitler được mười ba tuổi. Mẹ ông lúc này đã 42 tuổi, bà cố gắng nuôi hai đứa con Adolf và Paula bằng số tiền dành dụm ít ỏi và khoản lương hưu nhỏ nhoi. Bà vẫn muốn con trai mình trở thành một công chức, nhưng người con vẫn chống đối. Vì thế, dù giữa hai mẹ con có sợi dây tình cảm thân thương gia đình vẫn có xung đột, và Adolf tiếp tục biếng học. Sau này, Hitler xem quãng đời từ 16 đến 19 tuổi của mình là những ngày đẹp nhất trong cuộc đời ông. Dù cho mẹ ông gợi ý và những người thân động viên để ông học nghề và tìm việc làm, ông vẫn chỉ muốn rong chơi và mơ đến ngày nào sẽ trở thành một họa sĩ. Tuy bà mẹ hay đau yếu và túng quẫn, Adolf vẫn không muốn đỡ đần. Ông luôn căm ghét ý tưởng làm một nghề cố định nào đấy để sinh sống. Chính trong khoảng thời gian này, ông chán nản học hành nhưng lại đọc rất nhiều sách, sau khi đăng ký làm thành viên của thư viện và bảo tàng địa phương.

Năm 1906, khi vừa lên 17 tuổi, với một khoản tiền do bà mẹ và những người thân khác cung cấp, Hitler đi đến sống ở thủ đô Wien của nước Áo. Anh dọ hỏi việc theo học Viện Hàn lâm Mỹ thuật Wien, và năm sau dự kỳ thi tuyển sinh trong ước vọng trở thành họa sĩ. Nhưng mộng không thành: bức vẽ dự thi của anh không đủ điểm. Hitler cố dự thi lần nữa vào năm sau, nhưng lần này vẫn không đạt. Trong lúc ấy, bà mẹ đang hấp hối vì chứng ung thư. Trong ba năm, bà và dòng họ đã cố gắng chu cấp cho người trai trẻ mà không thấy kết quả gì. Ngày 21 tháng 12 năm 1908, bà qua đời.

Bốn năm kế tiếp, từ năm 1909 đến 1913, là giai đoạn khốn khó cùng cực đối với Hitler. Ông không thiết tha việc học nghề chuyên môn hoặc nhận bất kỳ việc làm thường xuyên nào. Thay vào đấy, ông nhận công việc lặt vặt: quét tuyết, di chuyển hành lý ở ga tầu hỏa, đôi lúc làm công nhân xây dựng trong vài ngày. Tháng 11 năm 1909, không đầy một năm sau khi đến Wien, ông phải rời bỏ căn hộ cho thuê có nội thất để sống 4 năm kế tiếp trong một phòng trọ rẻ tiền hoặc trong khu nhà trọ lụp xụp, và phải dùng bữa ở bếp ăn từ thiện cho qua cơn đói.

Từ việc đọc sách ở Wien, Hitler đã tiếp nhận những ý tưởng nông cạn và xoàng xĩnh, thường là phi lý và lố bịch, lại bị đầu độc bởi những thiên kiến kỳ dị. Những ý tưởng ấy tạo thành một phần nền tảng cho Đế chế Thứ Ba mà Hitler trẻ, ham đọc sách sắp gây dựng nên. Dù không trực tiếp can dự vào chính trị, Hitler theo dõi sát sao hoạt động của ba đảng phái chính của Áo. Việc này đã nảy sinh đầu óc sắc sảo về chính trị giúp Hitler nhìn rõ mặt mạnh và mặt yếu của những phong trào chính trị đương thời. Theo thời gian, đầu óc trưởng thành như thế đã biến Hitler thành một chính trị gia bậc thầy của nước Đức. Ông nghiên cứu những hoạt động của Đảng Dân chủ Xã hội Áo, rồi đi đến 3 kết luận giải thích tại sao đảng này đã thành công: họ biết tạo ra phong trào quần chúng mà nếu thiếu nó, đảng sẽ không có thực quyền; họ đã lĩnh hội được nghệ thuật tuyên truyền trong quần chúng và họ hiểu được giá trị của phương pháp mà ông gọi là "sự khủng bố tâm linh và thể chất".

Ông bắt đầu tập luyện tài hùng biện đối với những cử tọa ông tìm được ở khu nhà trọ, bếp ăn từ thiện, góc đường phố. Dần dà, việc này phát triển thành một kỹ năng đáng sợ hơn là bất kỳ kỹ năng nào giữa hai trận thế chiến, và đóng góp phần lớn vào thành công đáng kinh ngạc của Hitler.

Và cuối cùng, Hitler đã có kinh nghiệm về người Do Thái trong thời gian sống ở Wien. Dù Hitler sau này kể lại là ông không để ý gì đến người Do Thái lúc còn sống ở Linz, nhưng theo một người bạn thời tuổi trẻ của Hitler thì sự thật khác hẳn. Lúc từ Linz đi đến Wien, Hitler đã sẵn mang tư tưởng bài Do Thái.

Mùa xuân 1913, Hitler vĩnh viễn rời xa Wien để đến sống ở Đức. Lúc này Hitler được 24 tuổi, và mọi người đều thấy là ông hoàn toàn thất bại trong cuộc đời. Ông đã không thể trở thành một họa sĩ, hoặc một nhà kiến trúc. Dưới con mắt của mọi người, ông chẳng là gì cả mà chỉ là một gã lông bông, không có bạn bè, không gia đình, không công ăn việc làm, không có mái ấm. Tuy nhiên, ông có một thứ: lòng tự tin không gì dập tắt được và một ý thức về sứ mệnh nung nấu trong tim.

Những thành tựu của Hitler

Xét qua một người không có sự giáo dục cao, chỉ mang cấp bậc hạ sĩ trong Đệ nhất thế chiến, không có nhân thân tốt, không người đỡ đầu, không gia sản, những thành tựu của Hitler thật là đáng kể trong các lĩnh vực ngoại giao, kinh tế và quân sự.


Hitler duyệt binh trên Thiết giáp hạm Bismarck

Sự hồi phục kinh tế của Đức sau chiến tranh là thành tựu nổi bật, mà trong đảng cũng như các nhà kinh tế nước ngoài ca ngợi là phép lạ. Số người thất nghiệp từ 6 triệu năm 1932 giảm còn không đến 1 triệu bốn năm sau. Sản lượng và thu nhập quốc nội tăng gấp đôi trong thời gian 1932-37. Tuy Hitler không giỏi về kinh tế, ông quy tụ được những kinh tế gia giỏi, đặc biệt là TS. Hjalmar Schacht, được coi như là nhà phù thủy kinh tế.

Về quân sự, từ quân đội bị Hòa ước Versailles hạn chế ở mức 100.000 người, Hitler tăng quân số lên gấp ba vào cuối năm 1934. Khi phát động tiến công Nga năm 1941, Đức huy động 3,2 triệu quân tiến theo trận tuyến dài 1.600 kilômét.

Trước đó, sau khi quân Đức tràn sang Ba Lan, chỉ trong vòng 48 giờ, Không quân Ba Lan đã bị hủy diệt, phần lớn trong số 500 máy bay hiện đại trúng bom của máy bay Đức trước khi có thể cất cánh. Quân đội Ba Lan tan nát chỉ sau một tuần. Thủ đô Warszawa thất thủ trong vòng 4 tuần.

Ngày 9 tháng 4 năm 1940, Đức đồng loạt tấn công Đan Mạch và Na Uy. Đan Mạch đầu hàng lập tức, còn Na Uy chống cự dằng dai và chỉ đầu hàng 2 tháng sau.

Ngày 10 tháng 5, Đức tấn công Pháp, Hà Lan, Bỉ và Luxembourg. Hà Lan đầu hàng 5 ngày sau và Bỉ cầm cự không tới 3 tuần. Chỉ trong vòng hơn 1 tháng từ lúc vượt biên giới Pháp, quân Đức tiến vào thủ đô Paris.

Cuộc tấn công thần tốc qua Pháp một phần là từ quyết định của Hitler. Trong phương án tấn công ban đầu, mũi tiến công chính của Đức cũng giống như trong Đệ nhất thế chiến: đánh qua Bỉ và miền bắc nước Pháp vì địa hình bằng phẳng thuận lợi cho xe tăng. Vì thế Đồng Minh tập trung quân phòng ngự vùng này. Riêng tướng Erich von Manstein, Tham mưu trưởng Tập đoàn quân A đề xuất mũi tiến công chính của Đức phải là qua vùng Ardennes bằng một lực lượng cơ giới mạnh mẽ. Vốn luôn để ý đến những giải pháp táo bạo và ngay cả khinh suất, Hitler quan tâm đến phương án mới. Kết quả là Đức đánh qua nơi mà Đồng Minh bị bất ngờ nhất, vì lẽ tướng lĩnh của họ – cũng như phần lớn tướng lĩnh Đức – đều xem vùng đồi núi này là không thích hợp cho xe tăng. Bằng chiến thuật Blitzkrieg (sấm sét), quân Đức tiến thần tốc đi vòng qua quân chủ lực của Đồng minh. Hầu như toàn bộ quân đội Pháp bị sụp đổ.

Đến giữa năm 1942, Đức đã thôn tính khoảng 90% diện tích Tây Âu, chỉ trừ Thụy Điển, Vương quốc Anh, Scotland, Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Thụy Sĩ; còn ở Bắc Phi, Đức đang chiếm đóng Tunisia, Lybia và một phần Ai Cập.

Có vài điểm pha trộn trong lĩnh vực chỉ huy quân sự của Hitler. Nhờ quyết định của ông, Đức đánh chiếm thần tốc các nước Bắc Âu với thiệt hại không đáng kể, chỉ một nhóm nhỏ bính sĩ Đức chiếm được pháo đài hiện đại Eben Emael của Bỉ, được xem là có cấu trúc kiên cố nhất Châu Âu, và đánh thần tốc qua Pháp.

Quyết định nhất quán của Hitler là quân Đức phải trụ lại nơi tiến quân chứ không được rút lui. Các tướng lĩnh Đức mâu thuẫn nhau về việc này. Một số chống đối, cho rằng đó là quyết định gây thêm thiệt hại cho Đức, nhưng một số tán thành, cho rằng trến chiến trường đầy băng tuyết, lệnh rút lui chỉ làm cho binh sĩ tháo chạy mà không có căn cứ ở phía sau để họ có thể lui về trú ẩn, và cũng không có phòng tuyến nào để trụ lại.

Những tố chất trong con người Hitler
Trong con người của Hitler có nhiều tố chất đặc biệt, mỗi tố chất phụ trợ và kết hợp với những tố chất khác giúp cho ông đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đánh bại hoặc dẹp tan những thể chế chính trị cộng hòa, quân đội, nghiệp đoàn.

Tinh thần ái quốc cực đoan

Tinh thần này vừa giúp Hitler chiếm được con tim của người dân Đức và tranh thủ được sự ủng hộ của quân đội. Ban đầu, các nước Đồng Minh chỉ nhận ra khía cạnh "ái quốc" trong con người Hitler, còn khía cạnh "cực đoan" thì được che giấu bởi tài hùng biện.

Việc làm đi đôi với lời nói

Một khi đã định hình tư tưởng, xuyên suốt qua cương lĩnh đảng, quyển sách Mein Kampf và những bài phát biểu, Hitler đều mang ra thực hiện những gì ông nói. Cũng có nhiều điều ông không làm như đã hứa, nhưng đấy là chiến thuật mị dân trong bước đầu khi Quốc xã muốn chiếm quyền lực bằng lá phiếu dân chủ. Còn lại, Hitler đều thi hành những sách lược chủ chốt đúng như ông đã nói.

Bản chất độc tài, chuyên chế

Bản chất này đã bộc lộ ngay trong giai đoạn Hitler mới gia nhập Đảng Lao động Đức, tiền thân của Quốc xã. Cũng nói là làm, Hitler đã trình bày rất rõ ý định thiết lập một nước Đức dưới chế độ chuyên chế, độc đảng, và đảng này dưới quyền một lãnh tụ chuyên chế.

Lừa dối

Tố chất này không đi ngược lại mà là bổ sung việc thi hành những gì đã nói. Có nghĩa là Hitler sẵn sàng lừa dối để nhằm thi hành những điều chủ chốt trong tư tưởng của ông. Cũng nhờ những tố chất này, Hitler đã chinh phục được giới thương mại và công nghiệp trong nước. Riêng hai cường quốc Anh và Pháp, ban đầu muốn trấn áp Đức nhưng kế tiếp lại muốn xoa dịu Hitler, mở đường cho ông thôn tính Áo và Tiệp Khắc. Đến khi Hitler hung hăng xâm lăng Ba Lan thì họ mới nhận tham vọng vô bờ bến của Hitler, nhưng đã quá muộn: Đệ nhị thế chiến xảy ra là điều tất yếu.

Tài hùng biện

Đây là một vũ khí rất lợi hại của Hitler. Nhờ tài hùng biện cộng với tính lừa dối, Hitler đã chinh phục được người dân Đức, giới quân đội, ngay cả giới truyền thông và các nhà lãnh đạo nước ngoài.

Tinh thần ái quốc cực đoan:

Hitler: chiến binh dũng cảm vào mùa hè 1914, Đệ nhất thế chiến bùng nổ, và Hitler phải làm nghĩa vụ như hàng triệu thanh niên khác. Ông đầu quân cho một trung đoàn của vương quốc Bayern. Giống như hàng triệu người Đức khác, Hitler là một chiến binh can đảm. Sau này có vài đối thủ chính trị kết án ông là kẻ hèn nhát trong chiến tranh, nhưng không có chứng cứ nào trong hồ sơ hậu thuẫn lời kết án này. Hitler được thưởng huy chương hai lần vì tinh thần dũng cảm. Tháng 12 năm 1914 ông được thưởng huy chương Chữ thập Sắt hạng Nhì, và tháng 8 năm 1918 nhận huy chương Chữ thập Sắt hạng Nhất, vốn ít khi ban thưởng cho cấp binh sĩ trong Quân đội Đế chế cũ. Ông luôn mang tấm huy chương này một cách hãnh diện cho đến lúc chết.

Tuy thế, Hitler là một người lính kỳ lạ. Không có thư từ hoặc quà tiếp tế từ gia đình gửi đến như thường thấy ở những binh sĩ khác. Ông không bao giờ xin nghỉ phép; ông không hề để ý đến phụ nữ như những người lính khác. Giống như những chiến binh quả cảm nhất, ông không bao giờ phàn nàn về tình trạng hôi thối, chấy rận, bùn lầy nơi chiến trường. Ông tỏ ra là một chiến binh hăng say, luôn luôn cực kỳ nghiêm túc trong mọi mục đích của chiến tranh và vận mệnh của nước Đức.

Hitler kể rằng từ lúc đứng trước ngôi mộ bà mẹ mới mất, ông mới bật khóc lần nữa, khi nghe tin Đức thất trận. Giống như hàng triệu người Đức khác lúc ấy và mãi về sau, Hitler không thể chấp nhận thực tế khốc liệt là nước Đức đã chiến bại. Ông càng không thể chịu đựng được tấn thảm kịch ập xuống quê hương thân yêu của ông vào tháng 11 năm 1918. Đối với ông, cũng như đối với mọi người Đức, Quân đội Đức không thua trên trận tuyến, mà bị kẻ phản quốc ở hậu phương (bị gán bằng cụm từ "tội đồ Tháng Mười một") đâm sau lưng. Vì thế mà trong thâm tâm của Hitler cũng như của nhiều người Đức, sự tin tưởng quá khích đối với "truyền thuyết đâm sau lưng" dần dà làm suy yếu nền Cộng hòa và dọn đường cho Hitler cuối cùng lên nắm chính quyền.

Cố dằn lòng vì bị cấm phát biểu trước công chúng, Hitler hùng hục lao vào công việc tái lập Đảng Quốc xã và biến nó thành một tổ chức mà Đức chưa hề thấy từ trước đến giờ. Ông có ý đồ tổ chức đảng như là một quân đội – một nhà nước trong một nhà nước. Công tác đầu tiên là thu hút đảng viên nộp phí gia nhập. Vào cuối năm 1925, chỉ có 27.000 đảng viên. Đảng Quốc xã phát triển một cách chậm chạp, nhưng mỗi năm đều có tiến bộ: 49.000 đảng viên năm 1926; 72.000 năm 1927; 108.000 năm 1928; 178.000 năm 1929. Hitler thành lập cơ sở đảng hoàn chỉnh tương ứng với tổ chức hành chính của Đức và cũng giống với xã hội Đức. Nước Đức được chia ra thành vùng (gaue), tương đương với 34 đơn vị trong các kỳ bầu cử Nghị viện, và Hitler đích thân bổ nhiệm đảng viên làm gauleiter (tương đương với xứ ủy) đứng đầu mỗi vùng. Mỗi vùng được chia ra thành những cấp nhỏ hơn. Riêng thành phố được chia nhỏ thêm thành cấp khu phố và cấp tổ dân phố.

Tái vũ trang nước Đức

Vì tinh thần ái quốc cực đoan, Hitler theo đuổi một cách không mệt mỏi chương trình tái vũ trang, qua đó được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Quân đội. Bước đầu tiên là tăng quân số lên gấp ba – từ 100.000 (giới hạn của Hòa ước Versailles) lên 300.000 quân tính đến ngày 1 năm 10 năm 1934. Trong thời gian này, Hải quân Đức bắt đầu đóng tàu thiết giáp và tàu ngầm, vi phạm Hòa ước Versailles. Không quân Đức đặt hàng thiết kế máy bay chiến đấu và đào tạo phi công quân sự. Các khu tất bật sản xuất súng đạn, tổng hợp nitrát từ không khí, sản xuất xăng tổng hợp và cao su nhân tạo từ than đá. Các cường quốc, dẫn đầu là Anh, đành phải chấp nhận chuyện đã rồi.

Ngày 16 tháng 3 năm 1935, Hitler ban hành nghị định thiết lập nghĩa vụ quân sự và một quân đội thời bình gồm có 12 quân đoàn và 36 sư đoàn – khoảng nửa triệu người. Các cường quốc chỉ có một số động thái rỗng tuếch để cảnh cáo Hitler.

Ngày 21 tháng 5 năm 1935, Hitler bí mật ban hành Luật Bảo vệ Đế chế, tổ chức lại quân lực; Bộ Quốc phòng đổi thành Bộ Chiến tranh. Quân đội Đức từ danh hiệu Reichswehr (Quân Phòng vệ Đế chế) dưới thời Cộng hòa bây giờ được chuyển thành Wehrmacht (Lực lượng Phòng vệ). Hitler kiêm thêm Tư lệnh Tối cao Quân lực. Mỗi binh chủng hải lục không quân có Tư lệnh và Bộ Tư lệnh riêng.

Hitler đề xuất hải quân mới của Đức ở mức 35% tải trọng lực lượng Hải quân Hoàng gia Anh, và như thế vẫn còn khiến cho Đức 15% thấp hơn tải trọng của Hải quân Pháp. Anh nhanh chóng chấp nhận đề xuất này mà không tham khảo với Pháp, vô hình trung cho phép Đức tự do đóng tàu cho hạm đội càng nhanh càng tốt theo khả năng có thể – ngang bằng khả năng huy động tối đa các xưởng đóng tàu và nhà máy thép trong 10 năm. Vì thế, đây không phải là giới hạn tái vũ trang của Đức mà là khuyến khích bành trướng binh chủng hải quân nhanh chóng theo khả năng của Đức.

Bài Do Thái

Suốt đời, Hitler là người bài Do Thái một cách mù quáng và quá khích. Di chúc của ông – viết ra vài giờ trước khi qua đời – chứa đựng lời công kích cuối cùng đối với người Do Thái, cho là họ có trách nhiệm đối với cuộc chiến mà ông phát động. Lòng căm thù nóng bỏng này, được lan truyền qua nhiều người Đức, cuối cùng dẫn đến cuộc tàn sát kinh khủng trên diện rộng đến nỗi để lại một vết sẹo kinh hoàng trên nền văn minh của nhân loại và chắc chắn sẽ còn tồn tại khi nào mà con người còn sống trên quả đất.

Tinh thần bài Do Thái lan truyền mạnh mẽ trong các cấp chính quyền của Đức, đến nỗi các bị cáo trong Tòa án Nürnberg tin rằng thẩm phán trong các phiên tòa là người Do Thái!

Cuộc tàn sát người Do Thái

"Giải pháp cuối cùng" là cụm từ do giới Quốc xã sử dụng (chỉ mới được đưa ra ánh sáng trước Tòa án Nürnberg) để chỉ các cuộc tàn sát người Do Thái tiếp diễn cho đến cuối cuộc chiến. Có nhiều tranh cãi về số người Do Thái bị sát hại. Theo hai binh sĩ SS làm nhân chứng tại Tòa án Nürnberg, Karl Eichmann ước tính con số này là từ 5 triệu đến 6 triệu. Eichmann là Trưởng ban Người Do Thái của tổ chức RSHA, thực hiện "Giải pháp cuối cùng" dưới sự chỉ đạo của Heydrich. Con số đưa ra trong bản cáo trạng của Tòa án Nürnberg là 5,7 triệu, trùng hợp với ước lượng của Hội đoàn Do Thái Thế giới. Riêng Reitlinger cho số thấp hơn, từ 4,2 đến gần 4,6 triệu.

Vào năm 1939, có khoảng 10 triệu người Do Thái sống trên những lãnh thổ bị lực lượng của Hitler chiếm đóng. Dù theo ước lượng nào, điều chắc chắn là phân nửa số người này đã bị Quốc xã sát hại. Đấy là hệ lụy chung cuộc và cái giá ghê gớm của sự lầm lạc mà nhà lãnh đạo Quốc xã truyền tải đến – hoặc chia sẻ với – nhiều người đi theo ông ta.

Tuần lễ Thủy tinh vỡ

Vào mùa thu 1938, có thêm một điểm ngoặt cho Quốc xã, diễn ra trong thời gian mà đảng viên sau này gọi là "Tuần lễ Thủy tinh vỡ".

Ngày 7 tháng 11, một thanh niên người Đức gốc Do Thái 17 tuổi tên Herschel Grynszpan bắn chết Bí thư Thứ Ba của đại sứ quán Đức ở Paris. Cha của anh trai trẻ này nằm trong số cả chục nghìn người Do Thái bị trục xuất sang Ba Lan. Để trả thù cho việc này và cho việc ngược đãi người Do Thái nói chung ở Đức mà anh trai trẻ tìm đến đại sứ quán Đức với ý định hạ sát đại sứ. Nhưng người Bí thư Thứ Ba được phái ra xem anh muốn gì, và bị anh bắn chết.

Đêm 9 rạng sáng 10 tháng 11, một đợt giết chóc tệ hại nhất, cho đến lúc này, xảy ra. Theo Quốc xã, đấy chỉ là do việc dân Đức có phản ứng "tự phát" với tin giết người ở Paris. Nhưng sau Thế chiến thứ hai, tài liệu tịch thu cho thấy Đức đã sắp đặt việc "tự phát".

Nội bộ Quốc xã báo cáo 119 giáo đường của người Do Thái bị đốt, 76 giáo đường khác bị phá hủy, 7.500 cửa hàng Do Thái bị phá phách. Có 20.000 người Do Thái bị bắt, 36 người chết, 36 bị thương nặng – đều là người Do Thái.

Người Do Thái còn phải chi trả cho sự phá hủy tài sản của họ. Nhà nước tich thu tiền bảo hiểm đáng lẽ họ nhận được. Thêm nữa, họ phải chung nhau trả khoản tiền phạt một tỉ Mark Đức vì lý do "tội ác ghê tởm của họ", theo lời Göring.

"Tuần lễ Thủy tinh vỡ" là dấu hiệu báo trước cho sự suy yếu tai hại mà cuối cùng sẽ dẫn nhà độc tài, chế độ của ông và đất nước của ông đến chỗ suy tàn. Chúng ta đã thấy đầy dẫy những biểu hiện của chứng hoang tưởng tự đại của Hitler. Nhưng từ trước đến giờ, Hitler đã cố tự kiềm chế ở những thời điểm khẩn trương trên bước đường đi lên của ông và của đất nước ông. Ở những thời điểm như thế, thiên tài về hành động gan lì và tính toán cẩn thận cho hậu quả đã giúp cho ông đạt hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nhưng bây giờ, như ngày 9 tháng 11 và những hệ lụy về sau sẽ cho thấy, Hitler đang mất dần khả năng tự kiềm chế. Chứng hoang tưởng tự đại của ông đã trở nên áp chế. Biên bản buổi họp ngày 12 tháng 11 do Göring chủ trì cho thấy chính Hitler có trách nhiệm đối với đêm tàn phá trong tháng 11 ấy; chính ông đã thúc đẩy Göring loại trừ người Do Thái ra khỏi cuộc sống ở Đức. Từ lúc này trở đi, chủ nhân ông tuyệt đối của Đế chế thứ Ba sẽ không còn biết tự kiềm chế – đức tính đã thường cứu nguy cho ông trước đây. Và dù cho thiên tài của ông sẽ dẫn đến những cuộc thôn tính đáng kinh ngạc khác, những hạt mầm độc hại cho việc tự phá hủy chung cục của nhà độc tài và của đất nước ông đã được gieo cấy.

Việc làm đi đôi với lời nói

Cương lĩnh đảng: Trong đại hội quy mô đầu tiên của Đảng Lao động Đức (tiền thân của Quốc xã) ngày 24 tháng 2 năm 1920, lần đầu tiên Hitler nêu lên 25 điểm trong cương lĩnh của Đảng Lao động Đức. Những điểm quan trọng nhất sau này được Hitler mang ra thi hành, với hệ lụy tàn khốc cho hàng triệu người trong và ngoài nước Đức.

Điểm thứ nhất trong bản cương lĩnh đòi hỏi hợp nhất mọi người Đức trong một nước Đức mở rộng. Đây đúng là việc mà Hitler thực hiện sau này khi sáp nhập Áo với 6 triệu người Đức và vùng Sudetenland với 6 triệu người Đức khác. Đấy cũng là đúng theo yêu sách đòi lại vùng Gdańsk và những vùng đất khác ở Ba Lan có nhiều người Đức sinh sống. Và một trong những điều bất hạnh cho thế giới là có quá nhiều người trong giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến đã bỏ qua hoặc chế giễu mục đích này của Quốc xã mà Hitler đã cất công ghi trên giấy trắng mực đen. Những quan điểm bài Do Thái đưa ra cương lĩnh đảng cũng là lời cảnh cáo kinh khủng.

Có hai điểm trong cương lĩnh mà Hitler sẽ thi hành ngay khi trở thành thủ tướng. Điểm 2 đòi hỏi xóa bỏ các Hòa ước Versailles và Saint-Germain. Điểm 25 trù định việc "thiết lập một quyền lực trung ương mạnh cho Nhà nước". Điểm này – cũng như Điểm 1 và Điểm 2 đòi hỏi hợp nhất mọi người Đức trong Đế chế và việc xóa bỏ các hòa ước – được chính Hitler kiên quyết đưa vào cương lĩnh. Việc này cho thấy ngay từ lúc ấy, khi mà bên ngoài München chưa có mấy ai biết đến đảng của Hitler, ông đã phóng tầm nhìn đến chân trời xa hơn dù cho có nguy cơ bị mất sự hậu thuẫn ngay trong lãnh địa của mình.

Vào lúc ấy, tư tưởng ly khai nổi lên mạnh mẽ ở Bayern. Người Bayern thường xuyên xung khắc với chính quyền trung ương vì họ yêu sách phân quyền nhiều hơn hầu Bayern có thể được tự trị. Nhưng Hitler đang nhắm đến quyền lực không những ở Bayern mà còn bao trùm cả nước Đức, và nếu muốn duy trì quyền lực như thế cần có chính quyền trung ương mạnh, xóa bỏ những bang bán tự trị trong nền cộng hòa hiện thời và trong Đế chế Đức ngày xưa. Một trong những động thái của Hitler khi lên nắm chính quyền năm 1933 là nhanh chóng thực hiện điểm cuối cùng trong cương lĩnh của đảng mà lúc đầu không có mấy ai để ý đến. Không ai có thể trách Hitler đã không cảnh báo đầy đủ trước – trên giấy trắng mực đen – ngay từ bước khởi đầu.

Quyển sách Mein Kampf

Mùa hè 1924, trong tòa pháo đài Landsberg xưa cũ được dùng làm nhà tù, Adolf Hitler, tù nhân nhưng được đối xử như là khách danh dự với một căn phòng cho riêng mình và cảnh quan tuyệt vời bên ngoài, gọi Rudolf Hess đến (đã ra đầu thú và vào tù) để bắt đầu đọc cho anh này ghi lại từ chương này qua chương kia của một quyển sách có tựa đề là Mein Kampf (Cuộc tranh đấu của tôi).

Trong quyển Mein Kampf, Hitler diễn giải tư tưởng của ông và áp dụng đặc biệt vào việc phục hồi nước Đức. Hitler cho rằng Đức cần có không gian sinh sống (Lebensraum) ở miền Đông và phải sẵn sàng sử dụng vũ lực để đạt mục đích này. Chủ yếu là chiếm đất của Nga, phục hồi đường ranh giới của Đế quốc La Mã Thần thánh 600 năm về trước.

Hitler cũng vạch ra việc tạo dựng một quốc gia dựa trên chủng tộc thuần khiết và quy tụ mọi người Đức lúc này còn đang sống bên ngoài biên giới Đức. Trên quốc gia này sẽ thiết lập chế độ độc tài tuyệt đối dưới quyền một lãnh tụ – chính là ông ta – để ban hành mệnh lệnh cho một tầng lớp lãnh đạo nhỏ hơn, rồi những người này sẽ truyền lệnh xuống dưới.

Tư tưởng chủ chốt thứ hai trong quyển Mein Kampf là về chủng tộc, nêu lên tính ưu việt của chủng tộc Aryan, chà đạp lên những chủng tộc khác, những thứ cỏ rác – đấy là Do Thái và Slav. Một lần nữa, phải công nhận rằng việc làm của Hitler đi đôi với lời nói khi ông thi hành chính sách diệt chủng ở Đông Âu trong chiến tranh.

Sau này, Hitler thực hiện đúng như những gì ông đã vạch ra trong quyển Mein Kampf.

Sau khi ra khỏi nhà tù, ngày 27 tháng 2 năm 1925, Hitler mở đại hội đầu tiên của Đảng Quốc xã kể từ vụ Đảo chính Nhà hàng Bia với hai mục đích trong đầu mà từ nay về sau ông nhất định sẽ theo đuổi. Thứ nhất là tập trung mọi quyền lực vào tay ông. Thứ hai là tạo dựng lại Đảng Quốc xã thành một tổ chức chính trị hầu nắm chính quyền thông qua con đường hợp hiến mà thôi.



Tài hùng biện, tổ chức và tuyên truyền

Trong những ngày sống lang thang ở Wien, Hitler để ý đến tầm quan trọng của tài hùng biện trong chính trị, và ông viết:

Uy lực trong lịch sử tạo ra những cơn lốc về tôn giáo và chính trị từ ngàn xưa đều là uy lực thần kỳ của lời nói, và chỉ do lời nói mà thôi.... Chỉ có thể khích động quần chúng bằng uy lực của lời nói. Mọi phong trào vĩ đại đều là phong trào quần chúng, là sự bùng nổ của nỗi mê đắm và xúc cảm của con người...

Dù không tham gia vào hoạt động chính trị của Áo, anh trai trẻ Hitler đã bắt đầu tập luyện tài hùng biện đối với những cử tọa anh tìm được ở khu nhà trọ, bếp ăn từ thiện, góc đường phố. Dần dà, việc này phát triển thành một kỹ năng đáng sợ hơn là bất kỳ kỹ năng nào giữa hai trận thế chiến, và đóng góp phần lớn vào thành công đáng kinh ngạc của Hitler.

Tổ chức cơ cấu đảng

Khởi đầu, không có triển vọng gì về sự nghiệp chính trị cho một người Áo 31 tuổi không bạn bè, không tiền bạc, không công ăn việc làm, không nghề chuyên môn, và không hề có kinh nghiệm gì về hoạt động chính trị. Hitler nhận thức được điều này.

Hitler trở lại München vào mùa xuân 1919, rồi được điều vào Ban Báo chí và Thông tin của Phòng Chiến tranh Chính trị đóng tại quân khu địa phương. Quân đội Đức bây giờ nhúng sâu vào chính trị, đặc biệt là ở Bayern. Để quảng bá đường lối bảo thủ, họ tổ chức cho binh sĩ theo học các lớp chính trị, và Hitler là học viên chăm chỉ tham dự một trong các lớp học này. Một ngày tháng 9 năm 1919, Phòng Chiến tranh Chính trị ra lệnh cho Hitler dò xét một nhóm chính trị nhỏ tự gọi là Đảng Lao động Đức lúc ấy có không đến 100 đảng viên. Kết quả của việc này là Hitler chấp nhận trở thành Ủy viên Trung ương thứ bảy của Đảng Lao động Đức.

Ngay từ đầu, Hitler đã thể hiện một cách đáng kinh ngạc tài năng hùng biện, tổ chức và tuyên truyền. Đầu năm 1920, Hitler nắm nhiệm vụ tuyên truyền cho đảng, tổ chức một đại hội lớn lao nhất mà đảng tí hon này chưa từng mơ đến. Đại hội được dự trù vào ngày 24 tháng 2 năm 1920 trong một nhà hàng bia nổi tiếng ở München có sức chứa 2.000 người. Tài hùng biện của Hitler cũng giúp đảng thu thêm được đóng góp tài chính.

Thiết kế huy hiệu và cờ của Đảng Quốc xã

Cũng vào mùa hè 1920, nhà họa sĩ thất bại Hitler nhưng bây giờ trở thành bậc thầy về nghệ thuật tuyên truyền, phát sinh ý tưởng mà chỉ có thể được xem là một cú đột phá của thiên tài. Ông thấy cái mà đảng đang thiếu là một huy hiệu, một lá cờ, một biểu tượng nhằm thể hiện những gì mà đảng muốn phát huy và nhằm kích thích óc tưởng tượng của quần chúng – những người sẽ tiến bước và chiến đấu dưới ngọn cờ của đảng. Sau khi đã tập trung suy nghĩ và xem xét vô số mẫu thiết kế, Hitler tạo nên một lá cờ nền mầu đỏ, ở giữa có một đĩa tròn mầu trắng trong đó in hình chữ thập ngược mầu đen. Chẳng bao lâu, lực lượng SA và đảng viên Quốc xã mang băng tay có hình chữ thập ngược, và hai năm sau Hitler thiết kế lá cờ nghi thức để mang đi trong những cuộc diễu hành và để giăng lên sau khán đài của những buổi mít-tinh. Những tác phẩm này không hẳn là "mỹ thuật", nhưng là nghệ thuật tuyên truyền ở đẳng cấp cao. Đảng Quốc xã bây giờ có một biểu tượng mà không đảng phái nào khác sánh bằng. Hình chữ thập ngược dường như tự nó toát ra một sức mạnh huyền bí, để lôi kéo quần chúng hành động theo một đường hướng mới, và họ bắt đầu tụ hội dưới lá cờ của Quốc xã.

Trong phiên tòa xử tội phản quốc vì đã chủ mưu biến cố mà các sử gia gọi là Đảo chính Nhà hàng Bia, Hitler tạo ấn tượng mạnh trong lòng người dân Đức bằng tài hùng biện và tinh thần quốc gia sôi sục, và đưa tên tuổi ông lên trang nhất nhiều tờ báo trên thế giới. Hitler chỉ bị án 5 năm tù. Tuy thất bại, vụ bạo loạn khiến cho Hitler nổi danh cả nước, và trong con mắt nhiều người ông là người yêu nước và nhà anh hùng. Bộ máy tuyên truyền của Đảng Quốc xã biến vụ việc thành một trong những huyền thoại vĩ đại nhất.

Sau khi ra khỏi tù, cố dằn lòng vì bị cấm phát biểu trước công chúng, Hitler hùng hục lao vào công việc tái lập Đảng Quốc xã và biến nó thành một tổ chức mà Đức chưa hề thấy từ trước đến giờ. Ông có ý đồ tổ chức đảng như là một quân đội – một nhà nước trong một nhà nước. Công tác đầu tiên là thu hút đảng viên nộp phí gia nhập. Vào cuối năm 1925, chỉ có 27.000 đảng viên. Đảng này phát triển một cách chậm chạp, nhưng mỗi năm đều có tiến bộ: 49.000 đảng viên năm 1926; 72.000 năm 1927; 108.000 năm 1928; 178.000 năm 1929. Hitler thành lập cơ sở đảng hoàn chỉnh tương ứng với tổ chức hành chính của Đức và cũng giống với xã hội Đức. Nước Đức được chia ra thành vùng (gaue), tương đương với 34 đơn vị trong các kỳ bầu cử Nghị viện, và Hitler đích thân bổ nhiệm đảng viên làm gauleiter (tương đương với xứ ủy) đứng đầu mỗi vùng. Mỗi vùng được chia ra thành những cấp nhỏ hơn. Riêng thành phố được chia nhỏ thêm thành cấp khu phố và cấp tổ dân phố.

Trong kỳ tổng tuyển cử ngày 5 tháng 3 năm 1933, Quốc xã mở chiến dịch tuyên truyền vận động theo tầm mức nước Đức chưa từng thấy bao giờ. Lần đầu tiên, đài truyền thanh của Nhà nước phát đi giọng nói của Hitler, Hermann Göring và Joseph Göbbels đến mọi miền của đất nước. Đường phố giăng đầy cờ mang chữ thập ngược, vang vọng tiếng bước của binh sĩ SA. Những cuộc mít-tinh, diễu hành đốt đuốc buổi tối và âm thanh lan khắp các quảng trường. những tấm pa-nô đầy dẫy hình ảnh tuyên truyền rực rỡ của Quốc xã, và trong đêm tối ánh lửa trại soi sáng những triền đồi. Cử tri bị phỉnh phờ với những lời hứa về thiên đường Đức, bị đội quân áo nâu trên đường phố dọa dẫm khủng bố và kinh hãi vì những "phát hiện" về cuộc "cách mạng" của phe Cộng sản.

Đây là kỳ tổng tuyển cử dân chủ thực sự theo chiến lược của Hitler: nắm chính quyền bằng đường lối hợp pháp. Vì thế, đa số cử tri vẫn có thể bỏ phiếu chống lại Hitler. Đảng Quốc xã dẫn đầu, nhưng chỉ thu được 44% số phiếu.


Hitler đang diễn thuyết trên Cờ Chữ Thập Ngoặc (1934)

Chiến thuật khủng bố tâm linh và thể chất

Học hỏi từ quan sát ở Wien

Ở Wien, Hitler đã chú ý đến cách "khủng bố tâm linh và thể chất" của Đảng Dân chủ Xã hội Áo, dựa trên quan sát sai lạc và bị thiên kiến của ông làm chệch hướng. Ông viết:

Tôi đã hiểu ra sự khủng bố tâm linh mà phong trào này đã thực hiện, đặc biệt đối với giới tư sản;... họ tung ra hàng loạt lời dối trá và vu khống để chống lại bất kỳ đối thủ nào bị xem là nguy hiểm, cho đến lúc tinh thần của đối thủ bị dập tắt... Đây là chiến thuật dựa trên sự tính toán chính xác về những điểm yếu của con người, và chắc chắn đạt thành công...

Tôi hiểu ra tầm quan trọng của sự khủng bố thể chất đối với cá nhân và quần chúng... Chiến thắng đạt được trong hàng ngũ những người ủng hộ dường như là do công lý, còn đối thủ bị đánh bại thường không thiết gì đến việc đối kháng thêm.

Lực lượng SA và SS

Chỉ trong mười năm, ông đã sử dụng bài học khủng bố để đạt mục đích của mình. Khi tổ chức Đảng Quốc xã, ông áp dụng phương cách này: tổ chức cựu chiến binh thành một lực lượng sắt máu, ngụy trang dưới tên "Ban Thể dục Thể thao". Khởi đầu, đám cựu chiến binh được điều động trong các buổi đại hội để trấn áp người la ó phản đối, và nếu cần, đẩy họ ra khỏi phòng họp. Ngày 5 tháng 10 năm 1921, lực lượng bán quân sự được chính thức đặt tên Sturmabteilung, gọi tắt là SA, còn được gọi là "Quân áo nâu". Dần dà SA được kiện toàn thành một lực lượng vũ trang gồm vài trăm nghìn người để bảo vệ buổi họp của Quốc xã, giải tán buổi họp của đối thủ và nói chung khủng bố người chống lại Hitler.

Một lần, vào năm 1921 đích thân Hitler dẫn lực lượng SA tấn công một đại hội của nhóm đối lập và đánh đập một người mang tên Ballerstedt sẽ đọc diễn văn trong đại hội. Vì việc này, Hitler bị án 3 tháng tù, nhưng được trả tự do sau khi ngồi tù 1 tháng. Ông trở nên gần như là một vị thánh tử vì đạo và giành thêm hậu thuẫn. Hitler khoe khoang với cảnh sát: "Không sao cả. Chúng tôi đã đạt được mục đích. Ballerstedt không phát biểu được." Đúng như Hitler đã tuyên bố vài tháng trước:

Trong tương lai Phong trào Quốc xã sẽ ngăn chặn một cách không khoan nhượng – bằng vũ lực nếu cần – mọi đại hội hoặc buổi diễn thuyết có thể khiến cho đồng bào của chúng ta phân tâm.

Để được sự hỗ trợ đáng tin cậy hơn, Hitler thành lập lực lượng SS (Schutzstaffel). Cuối cùng, lực lượng SS ngự trị nước Đức và là một cái tên gây kinh hoàng cho mọi vùng bị Đức chiếm đóng ở Châu Âu.

Trong kỳ tổng tuyển cử ngày 5 tháng 3 năm 1933, Hitler muốn Nghị viện thông qua việc thiết lập chế độ độc tài. Để đạt được việc này, Hitler cần có hai phần ba số phiếu Nghị viện. Quốc xã bắt giam 81 đại biểu đảng Cộng sản trong Nghị viện khiến cho họ "vắng mặt" trong kỳ họp Nghị viện.

Thôn tính Áo bằng khủng bố tinh thần

Suốt năm 1937, với sự tài trợ và thúc giục của Đức, Quốc xã Áo gia tăng chiến dịch khủng bổ. Bom nổ hầu như mỗi ngày đây đó trên đất Áo; ở những tỉnh miền núi những cuộc biểu tình diễn ra rầm rộ và thường gây bạo lực khiến cho chính phủ suy yếu dần.

Hitler phái Papen dàn xếp cuộc hội đàm giữa thủ tướng Áo Kurt Schuschnigg và Hitler ngày 12 tháng 2 năm 1938. Hitler áp dụng chiến thuật khủng bố tinh thần: dùng ngôn ngữ thù địch để phủ đầu. Hitler nói với Schuschnigg:

Han đã tìm mọi cách để né tránh một chính sách thân thiện... Cả lịch sử của Áo chỉ là những hành vi phản bội không ngừng.... Đã đến lúc phải chấm dứt điều nghịch lý lịch sử này... Đế chế Đức là một trong những cường quốc vĩ đại nhất, và không ai sẽ lên tiếng nếu Đế chế này giải quyết vấn đề biên giới của họ.

... Tôi muốn cho ông biết là vụ việc không thể tiếp tục như thế này.... ai chống tôi sẽ bị nghiền nát... tôi sẽ giải quyết cái gọi là vấn đề Áo bằng cách này hoặc cách khác... Tôi chỉ cần ra lệnh, và chỉ trong một đêm duy nhất mọi cơ cấu phòng thủ nực cười của ông sẽ bị bắn tan tác.

Bị sốc vì cơn giận dữ của Hitler, vị Thủ tướng Áo vốn có tư thái trầm tĩnh cố giữ sự hòa dịu nhưng vẫn bảo vệ quan điểm của mình.

Cuối buổi sáng, khi Schuschnigg hỏi chính xác những điều kiện của Thủ tướng Đức là gì, thì Hitler đáp: "Chúng ta sẽ thảo luận chiều nay."

Buổi xế chiều, sau khi bị bắt phải chờ đợi trong hai giờ, Thủ tướng Áo nhận từ tay Ngoại trưởng Đức Joachim von Ribbentrop bản thảo của một "hiệp định" được chi biết rằng đấy là đòi hỏi cuối cùng của Hitler và rằng Hitler không cho phép thảo luận gì về bản văn này. Bây giờ cần phải ký kết.

Tối hậu thư này đòi trong vòng một tuần Schuschnigg phải chuyển giao chính phủ Áo cho Đảng Quốc xã Áo, chỉ định người thân Quốc xã TS. Arthur Seyss-Inquart làm Bộ trưởng Nội vụ. Tất cả có nghĩa là Áo sẽ mất quyền tự chủ. Đức cũng bảo Seyss-Inquart gửi điện tín cho Hitler, yêu cầu gửi quân Đức đến Áo để lập lại an ninh trật tự. Hãng thông tấn chính thức D.N.B. của Đức nói Seyss-Inquart đã gửi cho Hitler bức điện tín này. Trong bản cung khai tại Tòa án Nürnberg, Seyss-Inquart cho biết ông đã từ chối gửi điện tín như thế vì an ninh trật tự vẫn tốt. Hitler đã viện dẫn bức điện tín trong trò lừa đảo để biện minh với dân Đức và với người nước ngoài cho cuộc tấn công. Thật ra, có hai bản văn của bức "điện tín", đúng như Göring đã đọc qua điện thoại, được tìm thấy trong thư khố của Bộ Ngoại giao sau chiến tranh. Sau này, Papen giải thích là Bộ trưởng Bưu điện và Điện tín đã ngụy tạo các bức điện tín và đưa vào hồ sơ lưu trữ của chính phủ.

Schuschnigg thông báo sẽ tổ chức trưng cầu dân ý ngày 13 tháng 3 năm 1938 để hỏi dân Áo có muốn "một nước Áo tự do, độc lập, xã hội, Cơ đốc và thống nhất" hay không. Hitler nổi cơn giận dữ khi nghe tin bất ngờ này, và quyết định chiếm đóng Áo bằng quân sự. Đức ra lệnh Schuschnigg phải từ chức, và Áo phải bổ nhiệm Seyss-Inquart làm thủ tướng. Tổng thống Wilhelm Miklas của Áo miễn cưỡng chấp nhận đơn xin từ chức của Schuschnigg nhưng từ chối bổ nhiệm Seyss-Inquart lên thay thế.

Hitler ra lệnh phát động cuộc tiến công Áo ngày 12 tháng 3 năm 1938, rồi lên đường trở về quốc gia sinh quán của ông, được đón tiếp một cách tưng bừng. Hitler làm Tổng thống Áo, và Áo trở thành một tỉnh của Đế chế Đức. Một luật mới quy định "trưng cầu dân ý tự do và kín" ngày 10 tháng 4 để người Áo có thể quyết định "vấn đề thống nhất với Đế chế Đức", còn người Đức cũng tham gia trưng cầu dân ý về việc thống nhất cùng với việc bầu Nghị viện mới. Dưới chiến dịch tuyên truyền và khủng bố, 99,08% ở Đức và 99,95% ở Áo bỏ phiếu thuận cho Áo sáp nhập vào Đức, trở thành một tỉnh của Đức như các tỉnh khác.

Vận dụng thời cơ: Xé bỏ Hòa ước Versailles

Vì việc Đồng Minh áp đặt Hòa ước Versailles lên nước Đức, Đức trở thành một quốc gia bị chia rẽ. Phe bảo thủ không chấp nhận cả hòa ước lẫn nền hòa bình lẫn chế độ cộng hòa đã phê chuẩn hòa ước. Về lâu về dài, quân đội cũng thế. Adolf Hitler đã nhận ra thực lực của làn sóng quốc gia chống dân chủ, chống nền cộng hòa còn non trẻ. Ông bắt đầu nương theo làn sóng ấy mà tiến lên. Những diễn biến thời cuộc giúp Hitler thêm lợi thế, nhất là việc đồng Mark mất giá và việc Pháp chiếm đóng vùng sông Rhur. Chính giai đoạn này là cơ hội trời cho đối với Hitler.

Cơn suy thoái kinh tế lan khắp thế giới vào cuối năm 1929 tạo cho Adolf Hitler một cơ hội, và ông khai thác tận lực. Trong chiến dịch vận động cuồng loạn cho cuộc tổng tuyển cử ngày 14 tháng 9 năm 1930, Hitler hứa hẹn với hàng triệu người đang bất mãn rằng ông sẽ làm cho nước Đức hùng mạnh trở lại, từ chối việc trả bồi thường chiến tranh, chối bỏ Hòa ước Versailles, quét sạch tham nhũng, triệt hạ những trùm tài phiệt (đặc biệt nếu họ là người Do Thái), và đảm bảo mỗi người Đức đều có việc làm và bánh mỳ. Đối với những người đang đói kém mong cho cuộc sống bớt khổ và cũng đang tìm kiếm niềm tin mới, lời hứa như thế nghe thật hấp dẫn. Đảng Quốc xã chiếm 107 ghế, từ vị trí thứ chín và là đảng nhỏ nhất trong Nghị viện nhảy lên thành đảng lớn thứ nhì. Từ đầu năm 1930, chiến dịch tuyên truyền của Quốc xã đã có hiệu lực đối với Quân đội Đức, đặc biệt là trong số sĩ quan trẻ. Họ cảm thấy thu hút vì tinh thần quốc gia cực đoan của Hitler, và cũng vì viễn tượng mà ông vẽ ra: tái lập Quân đội trở lại thời vinh quang và hùng mạnh. Lúc ấy, sĩ quan sẽ có nhiều cơ hội để thăng tiến, không phải bị gò bó trong lực lượng nhỏ bé như bây giờ.

Ngày 30 tháng 1 năm 1937, Hitler đọc diễn văn trước Nghị viện, tuyên bố "rút chữ ký của Đức" ra khỏi Hòa ước Versailles.

Nước cờ mạo hiểm ở Rheinland

Sáng 7 tháng 3 năm 1936, một lực lượng nhỏ của Đức đi qua các cầu sông Rhein và tiến vào khu phi quân sự Rheinland. Lực lượng Pháp đang hiện diện trong vùng có thể bắn quân Đức tan tành và hầu như chắc chắn sẽ đặt dấu chấm hết cho Hitler. Nhưng Hitler dám đánh nước cờ mạo hiểm là do Pháp lưỡng lự và Anh mềm yếu. Nước cờ này mang đến cho Hitler một thắng lợi to tát hơn và có tính quyết định hơn là những gì ta hiểu lúc đầu. Trong nước, Hitler củng cố vị thế và quyền lực, đưa ông lên tầm cao chưa có nhà lãnh đạo Đức nào trong quá khứ đạt được. Ngày 7 tháng 3 năm 1936, Hitler giải tán Nghị viện, tổ chức "bầu cử" mới và trưng cầu dân ý về việc Đức chiếm Rheinland. Theo số liệu chính thức, 99% cử tri đi bỏ phiếu trưng cầu dân ý, và 98,8% chấp thuận hành động của Hitler. Ngay cả với yếu tố khủng bố của mật vụ, vẫn còn có tỷ lệ áp đảo người Đức ủng hộ Hitler.

Thắng lợi cũng đảm bảo Hitler vượt lên trên tướng lĩnh, những người đã lưỡng lự và nhụt chí vào thời điểm khủng hoảng trong khi ông vẫn kiên quyết. Thắng lợi cũng cho Hitler thấy rằng trong chính sách ngoại giao và ngay cả trong sự vụ quân bị, Hitler có óc phán đoán cao hơn tướng lĩnh. Họ đã sợ Pháp sẽ chống trả; Hitler thì biết rõ hơn. Tuy chỉ là một chiến dịch quân sự nhỏ nhoi, việc chiếm đóng Rheiland là một bước ngoặt quan trọng. Vị thế chiến lược của mỗi bên đã thay đổi hẳn sau khi ba tiểu đoàn của Đức đi qua các cầu sông Rhein mà các sư đoàn của Pháp không có động thái gì.

Tính chuyên chế, độc tài: Chiếm quyền độc tài trong đảng

Vào mùa hè 1921, lần đầu tiên Hitler đã cho các đồng chí của mình nếm trải bản tính tàn độc và óc tinh ranh về chiến thuật. Trong khi Hitler đi Berlin để tiếp xúc với vài phe nhóm theo chủ nghĩa quốc gia hầu mở rộng phong trào Quốc xã, những ủy viên trung ương khác của Đảng Quốc xã thấy có cơ hội để thách thức quyền lãnh đạo của ông. Hitler đã trở nên quá độc đoán với họ. Thế là họ trù định sáp nhập với những phe nhóm có chủ kiến tương tự, nghĩ rằng khi ấy ảnh hưởng của Hitler sẽ suy yếu.

Nhận ra vị thế của mình bị đe dọa, Hitler vội vã trở về München để dập tắt những người mà ông gọi là "mất trí điên rồ". Ông xin rút ra khỏi đảng. Những ủy viên trung ương khác thấy ngay là đảng không thể mất ông. Hitler không chỉ là nhà hùng biện tài giỏi nhất, mà còn là nhà tổ chức và tuyên truyền hữu hiệu nhất. Hơn nữa, chính Hitler là người mang về phần lớn ngân khoản đóng góp cho đảng. Nếu ông ra đi, chắc chắn Đảng Quốc xã sẽ tan rã. Trung ương đảng khước từ ý nguyện của Hitler. Sau khi đã nhận thức rõ vị thế của mình, bây giờ Hitler bắt buộc các nhà lãnh đạo khác của đảng phải nhượng bộ. Kết quả là Hitler xóa bỏ Trung ương Đảng, nắm quyền lãnh đạo độc tôn của đảng, nhà sáng lập đảng Drexler được đẩy lên làm chủ tịch danh dự, và chẳng bao lâu bị cho ra rìa. Tháng 7 năm 1921, "nguyên tắc lãnh đạo" được thiết lập, trở thành điều luật trước nhất cho Đảng Quốc xã và sau đấy cho Đế chế Thứ Ba. "Lãnh tụ" đã xuất hiện trên chính trường nước Đức. Vị "lãnh tụ" bây giờ bắt đầu lo tái tổ chức đảng, tiếp tục nhận thêm đóng góp tài chính.

Thiết lập thể chế độc tài

Nghị viện và chính quyền của bang bị giải tán ngay trong năm đầu Quốc xã nắm quyền lực. Bang được chuyển thành tỉnh, và tỉnh trưởng được Hitler bổ nhiệm. Thành phố cũng mất quyền tự quản, được đặt dưới Bộ Nội vụ. Bộ trưởng Nội vụ bổ nhiệm thị trưởng của thành phố có trên 100.000 dân, và tỉnh trưởng bổ nhiệm thị trưởng của thành phố từ 100.000 dân trở xuống. Riêng Hitler giữ quyền bổ nhiệm thị trưởng Berlin, Hamburg và Wien (sau năm 1938, khi Áo được sáp nhập).

Ngày 14 tháng 7 năm 1933, một luật mới quy định Đảng Lao động Quốc gia Xã hội Chủ nghĩa Đức là đảng chính trị duy nhất ở Đức. Các nghiệp đoàn bị dẹp bỏ.

Ngày 30 tháng 1 năm 1934, kỷ niệm tròn năm Hitler nhậm chức Thủ tướng, Hitler chính thức hoàn tất công việc qua Luật Tái lập Đế chế. Tất cả thể chế dân cử bị xóa bỏ, quyền điều hành bang được chuyển về trung ương, mọi cơ cấu chính quyền bang được tập trung dưới chính phủ Đế chế, thống đốc bang được đặt dưới hệ thống hành chính của Bộ Nội vụ Đế chế.

Đêm của những con dao dài

Từ những ngày đầu tiên trong phong trào Quốc xã, Hitler đã xác định đội quân áo nâu SA là lực lượng chính trị, không phải thuộc diện quân sự. Nhiệm vụ của họ là gây bạo động, gây khủng bố, theo đấy đảng sẽ xông lên mà chiếm quyền lực. Đối với Tham mưu trưởng Ernst Röhm của lực lượng SA, hiện đã lên đến nửa triệu người, lực lượng này vừa là xương sống của cuộc cách mạng Quốc xã và cũng là hạt nhân cho quân đội cách mạng tương lai. Ý tưởng của Hitler thì khác hẳn. Ông nhận thức rõ ràng rằng chỉ nắm được quyền lực nếu có sự ủng hộ của tướng lĩnh và rằng, ít nhất lúc này, ông vẫn còn lệ thuộc vào quân đội, vì họ vẫn còn đủ sức lật đổ ông nếu họ muốn. Hitler cũng tiên liệu rằng ông sẽ cần đến lòng trung thành của quân đội một khi Paul von Hindenburg qua đời. Hơn nữa, Hitler biết chắc rằng chỉ có cấp tướng lĩnh và sĩ quan, với mọi truyền thống và năng lực quân bị, mới có thể hoàn tất trong một thời gian ngắn mục tiêu xây dựng một lực lượng chiến đấu hùng mạnh và có kỷ luật. Quân SA chỉ là đám ô hợp – chỉ làm tốt trong việc đấm đá ngoài đường phố nhưng không thể là quân đội hiện đại. Họ đã làm tròn nhiệm vụ, và bây giờ phải tìm cách đẩy họ ra khỏi con đường sự nghiệp của Hitler.

Khó mà dung hòa hai quan điểm của Hitler và Röhm. Kết quả là cuộc thanh trừng đẫm máu trong đêm 30 tháng 6 năm 1934 mà các sử gia gọi là "Đêm của những con dao dài". Tham mưu trưởng Röhm của lực lượng SA cùng với một số thủ lĩnh SA đi ngược lại quan điểm của Hitler bị sát hại một cách dã man. Thêm một số người bị sát hại do Hitler tính sổ với những ân oán cũ.

Sau vụ này, Hitler tuyên bố:

Trong tương lai, mọi người nên biết rằng nếu họ ra tay chống lại Nhà nước, chắc chắn họ sẽ bị bắn chết. Đấy là lời cảnh cáo sẽ được áp dụng cho các tướng lĩnh gần chẵn 10 năm sau.

Hitler thanh trừng các nhân vật chống đối

Ngày 5 tháng 11 năm 1937, Hitler thông báo cho giới chỉ huy quân đội và ngoại giao cao cấp ý định tiến hành chiến tranh, sáp nhập Áo và Tiệp Khắc vào Đức. Các tư lệnh quân đội và ngoại trưởng tin chắc việc này sẽ dẫn đến chiến tranh toàn Châu Âu. Họ đều cảm thấy choáng váng. Đấy không phải là do yếu tố đạo lý mà vì lý do thực tế hơn: nước Đức vẫn chưa sẵn sàng cho một cuộc chiến lớn; nếu khiêu khích chiến tranh bây giờ sẽ có nguy cơ gặp thảm họa. Dựa trên những lý do ấy, Werner von Blomberg, Freiherr Wernner von Fritsch và Konstantin von Neurath dám lên tiếng cật vấn lý lẽ của Lãnh tụ. Trong vòng 3 tháng, cả ba người đều mất chức.

Do những mưu đồ của các thuộc hạ dưới quyền, lần lượt Thống chế, Tổng Tham mưu trưởng Quân lực von Blomberg và Đại tướng cấp cao Tư lệnh Lục quân von Fritsch đều bị mất chức do bị Heinrich Himmler dàn cảnh, kết tội đồng tính luyến ái.

Hitler tuyên bố đích thân ông chỉ huy toàn quân lực. Vì là nguyên thủ quốc gia, dĩ nhiên Hitler là Tư lệnh Tối cao Quân lực, nhưng bây giờ ông nắm luôn chức Tổng Tham mưu trưởng Quân lực và bãi bỏ Bộ Chiến tranh. Bộ Tổng Tham mưu Quân lực bây giờ có tên mới: Oberkommando der Wehrmacht – gọi tắt là OKW, chỉ huy ba binh chủng Lục quân, Không quân và Hải quân. Hitler là Tư lệnh Tối cao của OKW.

Ngày 4 tháng 2 năm 1938 là điểm ngoặt quan trọng trong lịch sử của Đế chế thứ Ba, là cột mốc trên đường tiến đến chiến tranh. Vào ngày này, những người bảo thủ cuối cùng ngáng trở Hitler trên con đường ông nhất quyết theo đuổi đã bị gạt qua một bên. Trong suốt 5 năm cho đến ngày 4 tháng 2 năm 1938 này, quân đội có đủ sức mạnh để lật đổ Hitler và Đế chế thứ Ba, nhưng họ đã không làm gì cả.

Đế chế Thứ Ba thành hình

Trong giai đoạn 1933-37, Quốc xã ra sức củng cố cho Đế chế Thứ Ba của họ. Từng bước, Hitler giải phóng Đức khỏi xiềng xích của Hòa ước Versailles, làm rối loạn phe Đồng Minh chiến thắng, và làm cho Đức hùng mạnh về quân sự trở lại. Cùng lúc, các luật chủng tộc được ban hành nhằm gạt người Do Thái ra khỏi cộng đồng Đức, báo chí và truyền thanh bị kiểm duyệt, các giáo hội Cơ đốc bị ngược đãi, nền văn hóa bị Quốc xã hóa, Quốc xã bắt đầu chiến dịch đốt những sách của các tác giả bị cho là có tư tưởng không phù hợp, hoặc chỉ vì tác giả là người Do Thái. Ngành truyền thanh và phim ảnh cũng nhanh chóng bị uốn nắn để phục vụ cho mục đích truyên truyền của Nhà nước Quốc xã. Trường học Đức, từ cấp một đến đại học, đều được Quốc xã hóa. Ai không nhận ra tư tưởng mới bị loại ra ngoài.

Trẻ em từ 6 đến 10 tuổi gia nhập nhóm nhi đồng. Họ được phát một quyển sổ để ghi thành tích, kể cả sự tiến bộ về ý thức hệ. Lúc lên 10 tuổi, trẻ phải trải qua những cuộc thi thể dục, cắm trại và lịch sử Quốc xã, trước khi được nhận vào nhóm thiếu niên và cất lời tuyên thệ trung thành với Adolf Hitler. Khi lên 14 tuổi, trẻ được nhận vào Đoàn Thanh niên Hitler thực thụ cho đến năm 18 tuổi, rồi được gọi làm nghĩa vụ lao động hoặc quân sự. Đến cuối năm 1938, Đoàn Thanh niên Hitler có gần 8 triệu đoàn viên trong tổng số 12 triệu ở độ tuổi này. Chương trình cải tổ giáo dục của Đế chế Thứ Ba lên đến đỉnh điểm với sự thành lập ba loại trường để đào tạo giới ưu tú: Trường Adolf Hitler, Học viện Giáo dục Chính trị Quốc gia và Thành trì Phẩm cấp. Theo cách ấy, giới trẻ của Đế chế Thứ Ba được huấn luyện để chuẩn bị cho cuộc đời, cho công việc và cho cái chết.

Dù nền Cộng hòa Weimar bị sụp đổ, Hiến pháp Weimar không bao giờ bị Hitler bãi bỏ. Thật ra, điều mỉa mai là Hitler sử dụng Hiến pháp Cộng hòa làm cơ sở pháp lý cho chế độ của ông. Vì thế, hàng nghìn luật được ban hành chiếu theo nghị định của Tổng thống "Cho việc Bảo vệ Nhân dân và Nhà nước" ngày 28 tháng 2 năm 1933.

Đàn áp những người chống đối

Có nhiều âm mưu chống đối Hitler với mục đích chính ban đầu là lật đổ ông nhằm ngăn ông gây chiến tranh mà họ nghĩ sẽ đem đến chiến bại cho nước Đức. Kế tiếp, khi chiến tranh đã bùng phát, những người chống đối muốn ngăn chặn việc Đức bị thất trận nhục nhã, cần vớt vát ít nhiều bằng cách ám sát Hitler và đàm phán với Đồng Minh. Riêng năm 1943, có ít nhất hàng chục kế hoạch ám sát Hitler.

Tất cả âm mưu đều thất bại. Giới dân sự không thể lôi kéo Quân đội Đức vào âm mưu của họ. Như Thống chế von Blomberg khai trước Tòa án Nürnberg:

Trước 1938-39, các tướng lĩnh Đức không chống lại Hitler. Không có lý do gì chống lại ông, vì ông tạo ra thành quả mà họ mong ước.

Sau vụ Claus von Stauffenberg ám sát hụt Hitler, trong cơn giận dữ tột cùng và lòng thèm khát trả thù không gì kiềm chế được, Hitler quát tháo:

Lần này, sẽ cho can phạm xưng tội ngắn gọn. Không có tòa án quân sự. Họ sẽ đứng trước Tòa án Nhân dân. Không cho phép họ phát biểu. Tòa án sẽ xét xử chớp nhoáng. Án tử hình được thi hành hai tiếng đồng hồ sau. Bằng cách treo cổ – không có sự khoan hồng.

Những người bị cáo buộc trong giới quân sự không ra tòa án binh, mà bị tước quân tịch để đứng trước Tòa án Nhân dân, vốn là loại hình tòa án bù nhìn, nhận lệnh trực tiếp từ Hitler. Tử tội bị đưa vào một gian phòng nhỏ đã có sẵn tám cái móc treo thịt. Từng người bị lột trần cho đến eo, một thòng lọng bằng sợi dây dương cầm được tròng vào cổ họ và phía trên buộc vào cái móc treo thịt. Một máy quay phim thu hình toàn bộ diễn tiến trong khi tử tội đong đưa và ngạt thở, chiếc quần không có dây lưng cuối cùng tụt xuống, khiến cho họ trần truồng trong khi chết một cách đau đớn. Theo chỉ thị, trong đêm ấy cuốn phim được tráng rồi được chuyển đến cho Hitler xem cùng với những ảnh chụp trong phiên tòa.

Nhân vật có can dự nổi tiếng nhất là Thống chế Erwin Rommel, thì bị Hitler bức tử để đổi lại gia đình ông không bị trừng phạt và lễ tang của ông được cử hành theo cấp nhà nước.

Những trò lọc lừa

Sau vụ ám sát hụt Hitler ngày 20 tháng 7 năm 1944, Tướng Tư lệnh Heinz Guderian nói về Hitler như sau: "Trong trường hợp của ông, tính cứng cỏi đã trở thành bạo tàn, trong khi xu hướng tháu cáy trở thành hoàn toàn bất lương. Ông thường nói dối mà không hề ngập ngừng và nghĩ rằng người khác cũng dối trá với ông."

Vụ hỏa hoạn ở Tòa nhà Nghị viện

Vào buổi tối 27 tháng 2 năm 1933, Tòa nhà Nghị viện bị cháy. Có đủ chứng cứ hợp lý cho thấy chính Quốc xã dưới sự chỉ đạo của Hermann Göring đã lên kế hoạch và tạo ra đám cháy nhằm phục vụ mưu đồ chính trị của họ. Một ngày sau vụ cháy, 28 tháng 2, Hitler yêu cầu Tổng thống ký nghị định "Cho việc Bảo vệ Nhân dân và Nhà nước" đình chỉ bảy đoạn trong hiến pháp đảm bảo quyền tự do cá nhân như là "biện pháp phòng vệ chống lại những hành động bạo lực của cộng sản phương hại đến đất nước". Nghị định còn cho phép chính phủ Đế quốc hành xử mọi quyền hạn của các bang khi cần thiết, và áp dụng hình phạt tử hình cho một số tội danh, kể cả tội "làm mất trật tự trị an một cách nghiêm trọng" do người có vũ trang. Thế là Hitler đã có thể bịt miệng đối thủ một cách hợp pháp và bắt giữ họ tùy ý, bằng cách mang hiểm họa của cộng sản ra hù dọa.

Ngày 23 tháng 3 năm 1933, Luật Trao quyền – có tên chính thức là "Luật Phòng chống Tai họa của Nhân dân và Đế chế" tước đoạt quyền lập pháp của Nghị viện kể cả việc phê chuẩn hiệp ước với nước ngoài và tu chính hiến pháp, và trao các quyền này cho nội các trong thời hạn bốn năm. Thêm nữa, Luật Trao quyền quy định Thủ tướng sẽ soạn thảo và ban hành luật mới "có thể khác biệt với hiến pháp". Thế là, nền dân chủ nghị viện rốt cuộc đã bị chôn vùi. Ngoại trừ những vụ bắt bớ đảng viên Cộng sản và vài đại biểu Dân chủ Xã hội, tiến trình diễn ra khá hợp pháp, dù là qua cách khủng bố. Kể từ ngày 23 tháng 3 năm 1933 trở đi, Hitler là nhà độc tài của đế chế, không còn bị nghị viện kiềm chế, và trên thực tế cũng không bị tổng thống kiềm chế.

Giải tán nghiệp đoàn

Để ru ngủ giới nghiệp đoàn trước khi ra tay, chính phủ Quốc xã tuyên bố Ngày Lao động năm 1933 là ngày lễ toàn quốc, được chính thức gọi là "Ngày Lao động Quốc gia", và chuẩn bị chương trình kỷ niệm như thể chưa từng được kỷ niệm trọng thể như thế. Giới lãnh đạo nghiệp đoàn lấy làm cảm kích và hồ hởi cộng tác với chính phủ và đảng nhằm cử hành ngày lễ được thành công. Các nhà lãnh đạo nghiệp đoàn khắp địa phương được đưa về Berlin, hàng nghìn băng-rôn được giăng ra tuyên dương tình đoàn kết giữa chế độ Quốc xã và công nhân.

Hitler đích thân tiếp đón các đoàn đại biểu công nhân, tuyên bố: "Các anh sẽ thấy câu nói cách mạng chống lại công nhân Đức là sai lầm và thiếu công tâm". Sau đấy, phát biểu trước 100.000 công nhân tụ tập ở sân bay, Hitler hô khẩu hiệu: "Tôn vinh lao động và tôn trọng công nhân!" và hứa rằng sẽ tiến hành kỷ niệm Ngày Lao động để tôn vinh lao động Đức "suốt nhiều thế kỷ".

Ngày 2 tháng 5 năm 1933, các trụ sở nghiệp đoàn trên khắp cả nước bị chiếm đóng, ngân quỹ nghiệp đoàn bị tịch thu, các nghiệp đoàn bị giải tán, và các nhà lãnh đạo bị bắt giữ. Nhiều người bị đánh đập và đưa vào trại tập trung.

Chỉ trong ba tuần, người ta thấy rõ thêm một lời hứa rỗng tuếch của Quốc xã. Hitler ban hành một luật mới chấm dứt việc thương thuyết tập thể, trên thực tế cấm công nhân đình công.

Cái chết của Hindenburg

Ngày 2 tháng 8 năm 1934, Tổng thống Ludwig von Hindenburg qua đời, hưởng thọ 87 tuổi. Theo một luật mới do nội các ban hành ngày hôm trước, hai chức vụ Thủ tướng và Tổng thống được nhập lại làm một, và Adolf Hitler đã nhậm chức lãnh đạo đất nước kiêm Tư lệnh Tối cao Quân lực. Chức vụ Tổng thống bị bãi bỏ; Hitler chính thức là Lãnh tụ và Thủ tướng Đế chế. Quốc xã chính thức loan báo là không thể tìm ra bản di chúc hoặc tuyên cáo nào của Hindenburg, và có thể xem như không có. Một bản tuyên cáo chính trị của Hindenburg tỏ lộ ý muốn cuối cùng của ông là phục hồi vương triều sau khi ông qua đời, nhưng Hitler giấu đi đoạn này. Một bản văn thứ hai có nội dung đề xuất một người của vương triều Hohenzollern làm tổng thống, nhưng sau chiến tranh người ta không thể tìm lại bản văn này. Có lẽ Hitler đã nhanh chóng thiêu hủy nó. Ngày 19 tháng 8 năm 1934, khoảng 95% cử tri đi bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý, và 90% chấp thuận cho Hitler chiếm mọi quyền lực. Chỉ có 4 triệu rưỡi người Đức có can đảm – hoặc có ước nguyện – nói "Không".

Lừa dối Đồng minh

Khi Hitler lên nắm chính quyền, một trong những việc đầu tiên của ông là gây rối các đối thủ của Đức ở Châu Âu bằng cách kêu gọi giải trừ quân bị, hô hào hòa bình, và để mắt phát hiện điểm yếu của họ. Ngày 17 tháng 5 năm 1933, Hitler đọc bài "Diễn văn Hòa bình" trước Nghị viện. Đây là một trong những bài diễn văn quan trọng nhất trong sự nghiệp của Hitler, một kiệt tác trong nghệ thuật tuyên truyền lừa dối đã khiến người Đức cảm động một cách sâu sắc. Bài diễn văn cũng khiến cho dân Đức đoàn kết sau lưng Hitler và tạo ấn tượng tốt cho thế giới bên ngoài. Hitler tuyên bố:

Đức hoàn toàn sẵn sàng từ bỏ mọi vũ khí tấn công nếu các quốc gia đã vũ trang cũng sẽ phá hủy vũ khí tấn công của họ... Đức cũng rất sẵn sàng giải tán cả quân đội và phá hủy số vũ khí ít ỏi còn lại, nếu các nước láng giềng cũng làm thế... Đức sẵn sàng ký kết bất kỳ hiệp ước bất tương xâm nào, bởi vì Đức không nghĩ đến việc tấn công mà chỉ nghĩ đến tìm kiếm an ninh.

Còn có nhiều điều khác trong bài diễn văn, với ngôn từ có chừng mực và thể hiện lòng khao khát hòa bình. Đức không muốn chiến tranh. Chiến tranh là "sự điên rồ vô bờ bến". Chiến tranh sẽ "làm sụp đổ trật tự xã hội và chính trị hiện giờ". Đức Quốc xã không muốn "Đức hóa" những dân tộc khác.

Người Pháp, người Ba Lan và những dân tộc khác là láng giềng của chúng tôi, và chúng tôi biết không biến cố nào có thể thay đối thực tế này.

Có một lời cảnh cáo. Đức đòi hỏi được đối xử bình đẳng với mọi quốc gia khác, đặc biệt là về giải trừ quân bị. Nếu điều này không đạt được, Đức sẽ rút ra khỏi Hội nghị Giải trừ quân bị và Hội Quốc liên.

Lời cảnh cáo chìm trong quên lãng giữa nỗi vui mừng khắp thế giới phương Tây đối với thái độ biết điều bất ngờ của Hitler. Báo chí Anh đăng tải những bài bình luận có thiện cảm với ý tưởng của Hitler. Lời lẽ của nhà độc tài thích bạo động của Quốc xã không phải là đe dọa dữ dằn như người ta e ngại lúc đầu, mà là ngọt ngào và dịu dàng.

Nhưng lời cảnh cáo của Hitler không phải là rỗng tuếch, mà ông làm đúng như những gì đã nói. Khi thấy rõ rằng Đồng Minh cứ khăng khăng về thời gian 8 năm để giải trừ quân bị xuống bằng với mức của Đức, ngày 14 tháng 10 năm 1933, thình lình Hitler loan báo rằng, vì không được các cường quốc ở Geneva đối xử bình đẳng, Đức lập tức rút lui khỏi Hội nghị Giải trừ quân bị và Hội Quốc liên.

Ngày 21 tháng 5 năm 1935, Hitler đọc một bài "Diễn văn Hòa bình" nữa ở Nghị viện – có lẽ là bài diễn văn hùng hồn nhất. Ông trấn an rằng tất cả những gì ông muốn chỉ là hòa bình và cảm thông dựa trên sự bình đẳng cho mọi bên. Ông bác bỏ ý tưởng chiến tranh; đấy là vô nghĩa, vô ích, cũng là điều kinh hoàng.

Những cuộc đổ máu trên lục địa Châu Âu trong ba trăm năm qua không cho thấy có sự thay đổi tương xứng. Chung cuộc Pháp vẫn là Pháp, Đức là Đức, Ba Lan là Ba Lan, Ý vẫn là Ý. Tính tự cao của vương triều, nỗi đam mê chính trị và sự mù quáng ái quốc chẳng đạt được gì nhiều qua những thay đổi chính trị sâu xa với máu chảy thành sông... Những tố chất cơ bản của họ vẫn không đổi. Nếu các quốc gia này chỉ cần mang một phần hy sinh nhỏ nhoi để phục vụ mục đích khôn ngoan hơn, thì thành công sẽ to tát hơn và trường cửu hơn.

Hitler tuyên bố là Đức không hề có ý nghĩ nào về việc thôn tính những dân tộc khác.

Nước Đức Quốc gia Xã hội Chủ nghĩa mong mỏi hòa bình... cũng vì nhận thức được sự kiện nguyên thủy đơn giản nhất là không có cuộc chiến tranh nào có thể thay đổi khổ đau ở Châu Âu... Hậu quả chủ yếu của mỗi cuộc chiến tranh là hủy hoại tinh hoa của đất nước.... Nước Đức cần hòa bình và đòi hỏi hòa bình!

Hitler luôn nhấn mạnh điểm này. Cuối cùng, ông đưa ra 13 đề xuất cụ thể nhằm duy trì hòa bình, tạo ấn tượng sâu đậm đối với nước Đức và cả Châu Âu. Ông rào đón với lời nhắc nhở:

Đức đã long trọng nhìn nhận và đảm bảo với Pháp đường biên giới... Bỏ qua quá khứ, Đức đã ký kết hiệp ước bất tương xâm với Ba Lan... Chúng tôi sẽ tôn trọng vô điều kiện hiệp ước này... Chúng tôi nhìn nhận Ba Lan là ngôi nhà của một dân tộc to tát và có lòng ái quốc cao độ.

Và đối với Áo:

Đức không có ý định và cũng không mong muốn can thiệp vào nội bộ của Áo, sáp nhập Áo vào Đức, hoặc thống nhất Áo và Đức...

Nhật báo có tầm ảnh hưởng rộng nhất nước Anh, tờ Times, hoan nghênh đến mức gần như cuồng nhiệt: "Bài diễn văn hóa ra đúng lý, thẳng thắn và toàn vẹn. Những ai với óc công tâm đều tin rằng chính sách do ông Hitler đưa ra có thể tạo nên một tiền đề tốt để đạt thỏa thuận trọn vẹn với Đức – một nước Đức tự do, bình đẳng và mạnh mẽ thay vì một nước Đức kiệt quệ bị áp đặt hòa bình mười sáu năm trước... Hy vọng rằng bài diễn văn sẽ được mọi phía chấp nhận là lời phát biểu chân thành và có suy xét, thể hiện chính xác những gì đã trình bày." Tờ báo nổi danh này, một trong những vinh quang chính trong ngành báo chí ở Anh, lại đóng vai trò giống như chính phủ Neville Chamberlain trong việc xoa dịu Hitler.

Chỉ trong vòng vài năm sau, những cam kết của Hitler trở nên vô nghĩa: Đức sáp nhập Áo vào Đức, xâm lăng Ba Lan, tấn công Pháp cùng một số nước Tây Âu.

Lừa dối Ba Lan

Ba Lan là quốc gia mà người Đức có ác cảm nặng nề nhất. Trong tâm tưởng của người Đức, lỗi lầm gớm ghiếc nhất của Hòa ước Versailles là tách Đông Phổ khỏi phần còn lại của lãnh thổ Đức để sáp nhập vào Ba Lan, tạo nên Hành lang Ba Lan.

Hitler thấy rằng trước khi tiêu diệt Ba Lan, cần tách nước này ra khỏi mối liên kết với Pháp. Sách lược ông đang theo đuổi có nhiều lợi điểm nhất thời. Bằng cách từ bỏ sử dụng vũ lực, ông có thể củng cố làn sóng truyên truyền cho hòa bình và xóa đi nỗi nghi ngại ở cả hai vùng Tây Âu và Đông Âu. Bằng cách mời Ba Lan đàm phán trực tiếp, ông có thể né tránh Hội Quốc liên và làm suy yếu chức năng của tổ chức này. Và ông tấn công vào ý niệm của Hội Quốc liên về "an ninh tập thể", đồng thời lũng đoạn những mối liên minh của Pháp với Đông Âu, trong đó Ba Lan là pháo đài vững chắc. Người dân Đức vốn thù ghét Ba Lan có thể không hiểu được, nhưng đối với Hitler một trong những lợi điểm của chế độ độc tài là có thể tạm thời theo đuổi chính sách mất lòng dân để đạt mục đích trong lâu dài.

Ngày 26 tháng 1 năm 1934, hiệp ước bất tương xâm giữa Đức và Ba Lan có hiệu lực trong 10 năm được ký kết. Từ ngày này, Ba Lan dần dần rời xa khỏi Pháp, nước bảo vệ Ba Lan từ khi Ba Lan ra đời năm 1919, và trở nên thân cận hơn với Đức Quốc xã. Đấy là con đường dẫn đến sự sụp đổ của Ba Lan trước khi hiệp ước bất tương xâm hết hạn.

Hitler thôn tính Tiệp Khắc

Nhằm chuẩn bị thôn tính Tiệp Khắc, Hitler kết hợp những yếu tố lừa dối, khủng bố tinh thần, chớp thời cơ và đánh nước cờ liều. Hitler viện cớ người Đức thiểu số Sudeten ở Tiệp Khắc bị áp bức để quấy động, khuynh đảo, tung hỏa mù và gây hiểu lầm giữa những sắc dân ở nước này, và che giấu mục đích thực sự của ông: để hạ gục Tiệp Khắc và chiếm lấy lãnh thổ cùng dân cư cho Đế chế thứ Ba. Hitler phổ biến ý định này ngày 5 tháng 11 năm 1937 cho giới chỉ huy quân đội và ngoại giao cao cấp.

Vì muốn xoa dịu Hitler, Thủ tướng Anh Arthur Neville Chamberlain đi đến hội kiến với Hitler tại Berchtesgaden ngày 15 tháng 9 năm 1938. Vị khách đã 69 tuổi và chưa từng đi máy bay lại có cuộc hành trình dài 7 tiếng đồng hồ (kể cả chặng tàu lửa mất 3 tiếng) để đến địa điểm hội kiến ở phần xa nhất của nước Đức. Hitler đã không tạo thuận lợi để đề nghị nơi gặp gỡ bên sông Rhein, vốn có thể giảm đường bay còn một nửa. Đấy là chủ định khủng bố thể chất đầu tiên.

Kế tiếp là những màn hù dọa của Hitler, trong Đức không đủ mạnh để tham chiến chống lại Tiệp Khắc và Anh-Pháp, chưa kể đến Liên Xô. Nếu Đức gây hấn, Đức sẽ chiến bại một cách nhanh chóng và dễ dàng, và đây sẽ là dấu chấm hết cho Hitler và Đế chế thứ Ba. Nếu vào giờ chót chiến tranh toàn Châu Âu không thể tránh khỏi, Quân đội Đức hẳn đã lật đổ Hitler ngay sau khi ông ra lệnh tấn công Tiệp Khắc.

Trò lừa dối chủ yếu là Hitler cam kết vấn đề Tiệp Khắc là yêu cầu cuối cùng của ông ở Châu Âu về lãnh thổ. Vì thế, Chamberlain gây áp lực bắt Tiệp Khắc phải nhượng bộ. Kết quả là Hiệp ước München, theo đó Tiệp Khắc nhường cho Đức gần 30.000 kilômét vuông lãnh thổ. Trên lãnh thổ này là một hệ thống lô cốt mà từ trước đến giờ tạo nên tuyến phòng thủ vững chắc nhất Châu Âu, có lẽ chỉ kém Phòng tuyến Maginot của Pháp. Cả hệ thống đường sắt, đường bộ, điện thoại và điện tín của Tiệp Khắc đều bị xáo trộn. Theo số liệu của Đức, Tiệp Khắc mất trên dưới 80% than non, hóa chất, xi măng; trên dưới 70% than đá, sắt, thép, điện năng; và 40% gỗ. Một đất nước công nghiệp phồn thịnh trong phút chốc bị tan rã và phá sản.

Dù đã đạt thắng lợi lớn lao và làm nhục cả Tiệp Khắc lẫn các nước dân chủ phương Tây, Hitler vẫn thất vọng về kết quả của Hiệp ước München. Ông ta thán với tùy tùng khi trở về Berlin: "Cái ông ấy [chỉ Chamberlain] đã làm tôi mất cơ hội tiến vào Praha!" Đấy chính là điều Hitler mong muốn ngay từ đầu, như ông đã liên tục thổ lộ với tướng lĩnh từ lúc phát biểu với họ ngày 5 tháng 11 năm trước. Lúc ấy, ông đã giải thích rằng việc thôn tính Áo và Tiệp Khắc chỉ là bước đầu để mở rộng Lebenraum – "không gian sinh sống" – về miền Đông và tính sổ với Pháp bằng quân sự ở miền Tây. Như ông đã bảo Thủ tướng Hungary ngày 20 tháng 9, cách tốt nhất là "trừ khử Tiệp Khắc". Ông nói đấy là "giải pháp thỏa đáng duy nhất". Ông chỉ e ngại "nguy cơ" là người Tiệp sẽ nhận chịu mọi yêu sách của ông.

Kế tiếp, ông Chamberlain lại đến München và ép buộc người Tiệp nhận chịu mọi yêu sách của Đức và do đó đã tước đi cơ hội cho Hitler thôn tính bằng vũ lực. Đấy là tư tưởng xảo trá của Hitler. Sau này, ông thổ lộ với tướng lĩnh: "Rõ ràng là ngay từ đầu tôi không thể hài lòng với lãnh thổ Sudetenland. Đấy chỉ là giải pháp nửa vời."

Tổng thống Tiệp Khắc Emil Hácha đến hội kiến với Hitler, và cũng chịu một trận khủng bố tinh thần. Hitler tuyên bố:

Sáu giờ sáng ngày mai Quân đội Đức sẽ tiến vào Tiệp Khắc từ mọi ngả và Không quân Đức sẽ chiếm lấy các sân bay của Tiệp Khắc. Có hai khả năng xảy ra. Thứ nhất là việc tiến quân của Đức có thể dẫn đến nổ súng. Trong trường hợp này, mọi kháng cự sẽ bị đập tan... Khả năng kia là việc tiến quân được thực hiện theo cách ôn hòa, trong trường hợp này sẽ dễ dàng cho Lãnh tụ chấp thuận Tiệp Khắc có đời sống cho riêng họ, được tự trị, và sẽ được hưởng phần nào quyền tự do cho quốc gia...

Nếu phải chiến đấu... trong hai ngày Quân đội Tiệp Khắc sẽ tan tành. Dĩ nhiên là có vài người Đức cũng bị giết và điều này sẽ kéo theo lòng hận thù vốn sẽ ngăn chặn ông chấp thuận quyền tự trị...

Lúc Hitler tạm chia tay với khách, đồng hồ chỉ 2 giờ 15 khuya, nhưng Hermann Göring và Joachim von Ribbentrop tiếp tục gây áp lực lên Tổng thống cùng Ngoại trưởng. Tổng thống Hácha ngã ra bất tỉnh, được cứu cho tỉnh lại rồi bị ép nói chuyện với chính phủ của ông ở Praha và khuyên nên nhượng bộ. Rồi ông loạng choạng trở lại gặp Hitler mà ký bản án tử hình cho Tiệp Khắc. Bây giờ là 4 giờ sáng kém 5 phút ngày 16 tháng 3 năm 1939.

Lúc 6 giờ sáng ngày 15 tháng 3 năm 1939, quân Đức tràn vào Tiệp Khắc. Họ không gặp sự kháng cự nào, và đến buổi tối Hitler có thể tiến bước như người chiến thắng vào thủ đô Praha. Trước khi rời Berlin, Hitler ra một tuyên cáo hùng hồn cho dân Đức, lặp lại lời dối trá về những hành động "quá trớn man dại" và "khủng bố" của người Tiệp mà ông bị bắt buộc phải ra tay chấm dứt, và tuyên bố một cách hãnh diện "Tiệp Khắc đã bị xóa sổ!"

Hitler thôn tính Slovakia

Với mục đích làm suy yếu Tiệp Khắc, Đức muốn tách Slovakia khỏi Tiệp Khắc. Để thực hiện việc này, Đức giúp Josef Tiso (nguyên Thủ tướng của Slovakia đã bị Tổng thống Hácha cách chức) thảo một bức điện tín mà ông này gửi cho Hitler để tuyên cáo nền độc lập của Slovakia và yêu cầu Hitler bảo vệ cho quốc gia mới này.

Ngày 16 tháng 3 năm 1939, thể theo lời "yêu cầu" của Tiso, Hitler đặt Slovakia dưới sự bảo vệ của Đức. Quân đội Đức nhanh chóng tiến vào Slovakia để thực hiện sự "bảo vệ". Đức và Slovakia ký kết "Hiệp ước Bảo vệ". Thủ tướng Anh Chamberlain dựa trên tuyên ngôn "độc lập" của Slovakia để viện cớ Anh không cần giữ lời cam kết. Thế là, chiến lược của Hitler đã có kết quả toàn hảo. Ông đã cho Chamberlain một con đường thoát và Chamberlain đã chọn con đường này.

Tính hoang tưởng của Hitler

Trong buổi họp mật ngày 23 tháng 11 năm 1939 trước tướng lĩnh cấp cao để chuẩn bị kế hoạch tiêu diệt Hà Lan và Bỉ, Hitler phát biểu với đầu óc hoang tưởng một cách nguy hiểm:

Tôi phải nói về tôi với tất cả sự khiêm tốn: không thể thay thế. Không ai trong giới quân sự hoặc dân sự có thể thay thế tôi... Tôi tin tưởng vào năng lực trong tri thức của tôi và quyết định của tôi... Không một ai đã tạo được thành tựu như tôi... Tôi đã dẫn dắt nhân dân Đức lên một tầm cao mới, dù cho nếu bây giới thế giới ghét bỏ ta... Vận mệnh của nước Đức chỉ tùy thuộc nơi tôi. Tôi sẽ theo đấy mà hành xử..

Theo nhiều khía cạnh, ngày 23 tháng 11 năm 1939 là một điểm mốc, đánh dấu vị thế áp đảo của Hitler trong Quân đội Đức. Từ ngày này trở đi, người cựu hạ sĩ gốc Áo xem sự suy xét chính trị và quân sự của mình là vượt trội so với các tướng lĩnh, và do đó không muốn nghe họ tham mưu cho ông hoặc không cho phép họ chỉ trích ông. Kết quả chung cuộc sẽ là một thảm họa cho tất cả.

Hitler xua quân Đức tiến công Liên Xô ngày 22 tháng 6 năm 1941 với chiến thuật thần tốc đã giúp Đức hạ gục nhanh chóng Ba Lan và Tây Âu. Ngày 3 tháng 10, Hitler tuyên cáo với dân Đức:

Tôi tuyên bố ngày hôm nay, và tôi tuyên bố mà không ngần ngại, rằng kẻ thù ở miền Đông (Liên Xô) đã bị đánh gục và sẽ chẳng bao giờ vươn lên được nữa...

Đó là kết luận quá sớm, vì tính hoang tưởng và ngông cuồng, tự kiêu tự đại. Các tướng lĩnh Đức chủ trương phương án tiến thẳng đến thủ đô Moskva. Các tướng lĩnh biện luận với Hitler rằng Moskva là trung tâm sản xuất vũ khí quan trọng, và quan trọng hơn, cũng là trung tâm giao thông liên lạc của nước Nga. Nếu chiếm được Moskva, Liên Xô sẽ bị cắt nguồn cung cấp vũ khí thiết yếu, và còn không thể vận chuyển binh sĩ cùng hàng hậu cần đến những trận tuyến ở xa, rồi họ sẽ yếu đi, tàn tạ và sụp đổ. Hitler thì muốn chiếm lấy Ukraina cũng như những mỏ dầu vùng Caucasus, cùng lúc chiếm lấy Leningrad và bắt tay với quân Phần Lan ở miền bắc. Để đạt được cả hai mục tiêu này, phải tách vài sư đoàn bộ binh và thiết giáp từ Tập đoàn quân Trung tâm để điều đi miền bắc và nhất là miền nam. Mũi tiến công đến Moskva phải đình lại. Đến ngày 5 tháng 9, Hitler mới ra lệnh gấp rút tiến đến Moskva. Nhưng một lần nữa, Hitler là nạn nhân của tính ngông cuồng hoang tưởng. Chiếm Moskva trước mùa đông là không đủ. Ông ra lệnh quân Đức cùng lúc phải chiếm lấy Leningrad (hiện nay là Sankt-Peterburg, bắt tay với quân Phần Lan phía ngoài thành phố này. Kết quả là Đức không thể chiếm được mục tiêu nào cả. Đến ngày 26 tháng 11, Đức liệt kê tổng cộng thương vong trên mặt trận miền Đông (không kể người bệnh) là 743.112 sĩ quan và binh sĩ – 23 phần trăm của lực lượng với quân số tổng cộng 3,2 triệu.

Sang năm 1942, tính hoang tưởng lại làm hại Hitler. Tham mưu trưởng Lục quân Franz Ritter von Halder ghi lại trong nhật ký: "Việc liên tục đánh giá thấp khả năng của đối phương đang mang những hình thức lố bịch và trở nên nguy hiểm." Halder cho là Hitler nhận định quá đáng về sức mạnh của chính mình và đánh giá quá thấp sức mạnh của địch thủ qua mẩu chuyện sau đây: "Có lần khi nghe trình bày một báo cáo khá khách quan, cho biết vào năm 1942 Stalin có thể điều động từ 1 triệu đến 1,25 triệu binh sĩ mới còn khỏe mạnh cho vùng bắc Stalingrad và tây sông Volga chưa kể nửa triệu quân trong vùng Caucasus, và công suất chế tạo xe tăng hàng đầu lên đến ít nhất 1.200 chiếc mỗi tháng, Hitler nhảy xổ đến người đang đọc báo cáo, hai bàn tay nắm lại thành nắm đấm, miệng sùi bọt ra hai bên mép, ra lệnh ông này không được nói năng nhảm nhí nữa."

Vì tính hoang tưởng, Hitler không màng nghe sự tham mưu của tướng lĩnh, mà vẫn nhất quyết một cách cuồng tín chiếm lấy cả hai mục tiêu: Stalingrad cùng lúc Caucasus. Đây là một trong những động thái có tính định mệnh nhất của Hitler trong cuộc chiến. Vì lẽ, rốt cuộc Hitler không thể chiếm được mục tiêu nào, mà còn chịu một chiến bại nhục nhã nhất trong lịch sử Quân đội Đức, khi Thống chế Friedrich Paulus dẫn Đại đoàn thứ Sáu đầu hàng Liên Xô.

Những ngày cuối cùng của Hitler


Ngày 16 tháng 1 năm 1945, Hitler trở về Berlin, từ boong-ke sâu 17 mét phía dưới Phủ Thủ tướng chỉ đạo các đoàn quân đang vỡ vụn trước sức tiến công của Nga và Đồng Minh phương Tây vào lãnh thổ Đức.

Trong tình trạng thể chất và tinh thần suy sụp, Hitler đưa ra một trong những quyết định quan trọng cuối cùng trong đời. Ngày 19 tháng 3 năm 1945, ông ra lệnh phá hủy tất cả các cơ sở quân sự, công nghiệp, giao thông và viễn thông cũng như mọi cửa hàng trên đất Đức để tránh rơi vào tay quân địch. Nước Đức sẽ biến thành đồng không và không thứ gì còn lại để giúp người dân Đức có thể sống sau chiến bại.

Người dân Đức tránh khỏi thảm họa cuối cùng là do những nỗ lực siêu nhân của Bộ trưởng Khí tài và Vũ trang Albert Speer và một số sĩ quan Quân đội đã kháng lệnh của Hitler. Họ đã chạy cùng khắp nước Đức để đảm bảo sĩ quan quân đội và đảng viên phục tùng một cách nhiệt tình không phá hủy những cơ sở ấy. Một phần cũng nhờ sự tiến quân thần tốc của Đồng Minh khiến cho công tác phá hủy trên diện rộng như thế là bất khả thi.

Hitler đã định rời Berlin ngày 20 tháng 4 năm 1945, sinh nhật thứ 56 của ông, để đi Obersalzberg và chỉ đạo cuộc chiến từ nơi này. Mười ngày trước, chính Hitler đã phái toán nhân viên hộ lý của ông đi Obersalzberg để chuẩn bị cho ngôi biệt thự Berghof đón ông đến. Tuy nhiên, định mệnh khiến cho Hitler không bao giờ được nhìn lại nơi chốn nghỉ dưỡng mà ông yêu thích. Hồi kết đến nhanh hơn là ông dự tính, vì quân Mỹ và Liên Xô tiến quá nhanh vào đất Đức.

Sinh nhật 20 tháng 4 của Hitler trải qua một cách trầm lặng, dù tướng lĩnh Đức ghi nhận thêm thảm họa trên các mặt trận. Tất cả các lãnh đạo Quốc xã kỳ cựu đều có mặt: Hermann Göring, Joseph Göbbels, Heinrich Himmler, Joachim von Ribbentrop và Martin Bormann, cũng như những chỉ huy quân đội còn sót lại: Karl Dönitz, Wilhelm Keitel, Alfred Jodl và Hans Krebs (tân Tham mưu trưởng Lục quân, và cũng là người cuối cùng trong chức vụ này).

Hitler không tỏ ra tuyệt vọng, cho dù tình hình tồi tệ. Ông vẫn tự tin, như ông nói với các tướng lĩnh 3 ngày trước rằng quân Nga sẽ chịu đổ máu nặng nề nhất trước Berlin. Các tướng lĩnh biết rõ hơn ông, và trong buổi họp quân sự thường kỳ sau khi ăn mừng sinh nhật, họ khuyên ông nên rời Berlin để đi về miền nam. Họ giải thích rằng chỉ 1 hoặc 2 ngày nữa quân Nga sẽ cắt đứt hành lang đi về hướng ấy. Hitler lưỡng lự; ông không nói đồng ý hay chối từ. Hiển nhiên là ông không thể đối mặt với sự kiện kinh khủng là thủ đô của Đế chế thứ Ba sắp bị Liên Xô chiếm đóng, trong khi chỉ vài năm trước ông đã tuyên bố rằng kẻ thù này đã bị đánh gục.

Nhưng Hitler vẫn chưa chịu buông xuôi. Ông đã ra lệnh tướng SS Felix Steiner tổng phản công quân Liên Xô ở những vùng ngoại ô phía nam của Berlin. Tất cả binh sĩ trú đóng trong vùng Berlin sẽ được tung ra trận đánh, kể cả binh sĩ không quân hiện diện trên mặt đất. Trong hai ngày kế, Hitler nôn nóng chờ đợi tin tức về cuộc phản công của Steiner. Đây là thêm một ví dụ ông đã không còn biết gì về tình hình thực tế. Cuộc phản công của Steiner không hề diễn ra, mà chỉ nằm trong tâm trí nóng bỏng của nhà độc tài tuyệt vọng.

Trong buổi họp quân sự ngày 22 tháng 4, Hitler giận dữ đòi hỏi được biết tin tức về Steiner. Các tướng lĩnh đều không trả lời được, nhưng cho biết việc điều quân từ hướng bắc đi tăng viện cho Steiner ở hướng nam đã khiến cho mặt trận hướng bắc suy yếu, quân Liên Xô thâm nhập ở đây và xe tăng của họ đã tiến vào bên trong thành phố.

Hitler không còn có thể chịu được nữa. Mọi nhân chứng còn sống sót sau này đều kể lại rằng Hitler hoàn toàn mất tự chủ. Ông nổi cơn thịnh nộ dữ tợn nhất trong đời. Ông la hét rằng đây là hồi kết cục. Mọi người đã bỏ rơi ông. Không còn gì nữa, mà chỉ có phản bội, dối trá, tham nhũng và hèn nhát. Tất cả đã hết. Thôi được, ông sẽ ở lại Berlin. Ông sẽ đích thân chỉ huy sự phòng vệ thủ đô của Đế chế thứ Ba. Những người khác có thể đi nếu muốn. Tại nơi này, ông sẽ đối mặt với đoạn cuối của đời ông. Ông nói với tất cả những người quanh ông rằng ông đã quyết định. Và để chứng tỏ cho mọi người thấy không gì đảo ngược lại được, ông gọi một thư ký và với sự hiện diện của họ, đọc một bản tuyên bố sẽ được truyền ngay trên sóng phát thanh. Bản tuyên bố cho biết Hitler sẽ ở lại Berlin và bảo vệ thủ đô cho đến cùng.

Có hai vị khách cuối cùng đi đến boong-ke của Hitler: Hanna Reitsch, nữ phi công tài ba chuyên lái máy bay thử nghiệm có ác cảm thậm tệ với Göring, và Đại tướng không quân Robert Ritter von Greim mà ngày 24 tháng 4 ở München đã nhận lệnh của Hitler về trình diện ông. Chiếc máy bay chở hai người trên chặng cuối vào tối 26 tháng 4 bị đạn phòng không của Liên Xô bắn trúng, và một chân của Greim bị thương nặng.

Hitler đi đến phòng giải phẫu, nơi một bác sĩ đang băng bó vết thương của Greim, rồi phong cho vị tướng đang nằm dưỡng thương chức Tư lệnh Không quân và thăng ông quân hàm Thống chế (là thống chế Đức cuối cùng trong cuộc chiến).

Ngày 28 tháng 4, Hitler có vẻ như lại hy vọng, nhưng thật ra đấy là hoang tưởng. Ông gọi máy vô tuyến cho Keitel, hỏi han về những cánh quân Đức trong chiến dịch giải cứu Berlin. Nhưng "chiến dịch" này chỉ có trong trí tưởng tượng của Hitler. Các đội quân Đức mà Hitler trông chờ hoặc bị tiêu diệt, hoặc vội vàng rút về hướng tây để chịu cho Đồng Minh phương Tây bắt thay vì đầu hàng quân Liên Xô. Những mũi tiền tiêu của quân Liên Xô chỉ còn cách Phủ Thủ tướng vài góc phố.

Cũng trong ngày 28 tháng 4: Bộ Tuyên truyền Đức bắt được bản tin của đài BBC ở London, cho biết Himmler đã tiến hành bí mật thương lượng để đề nghị quân đội Đức ở miền Tây đầu hàng quân Mỹ. Đối với Hitler, người không bao giờ ngờ vực lòng trung thành tuyệt đối của Himmler, đây là đòn đau đớn nhất.

Ít phút sau, có thêm tin báo là quân Liên Xô đang tiến đến chỉ còn cách một khu phố, và có lẽ sẽ tràn ngập Phủ Thủ tướng vào buổi sáng 30 tháng 4, cách 30 tiếng đồng hồ sau. Hai tin báo liên tiếp cho thấy dấu hiệu của hồi kết thúc. Hitler bắt buộc phải đi đến một trong những quyết định cuối của đời ông. Đến hừng sáng, ông cử hành hôn lễ với Eva Braun, soạn thảo bản di chúc và tuyên cáo cuối cùng,

Hai văn bản Di chúc và Tuyên cáo Chính trị của Hitler đều tồn tại sau cuộc chiến theo như ý nguyện của Hitler. Hai văn bản xác định rằng người đã cai trị nước Đức với bàn tay sắt trong hơn 12 năm, và thống trị phần lớn Châu Âu trong 4 năm, đã không rút tỉa được bài học nào từ kinh nghiệm của ông. Ngay cả những bước thụt lùi và thảm bại cuối cùng vẫn không dạy cho ông được điều gì. Trong những tiếng đồng hồ cuối cùng của cuộc đời, ông luôn nguyền rủa người Do Thái về mọi vấn nạn của thế giới, và than vãn là một lần nữa định mệnh đã cướp đi chiến thắng của nước Đức. Trong lời giã biệt này với nước Đức và với thế giới mà cũng là lời kêu gọi cuối cùng với lịch sử, Adolf Hitler lại moi ra mọi lời lừa phỉnh trong quyển Mein Kampf và thêm vào những luận cứ sai lạc cuối cùng. Đấy là một bài văn bia thích hợp cho một kẻ chuyên chế say với quyền lực mà quyền lực tuyệt đối đã hoàn toàn bị phá sản. Một lần nữa, dù là lần cuối, Hitler vẫn lừa dối:

Không phải tôi hoặc bất kỳ ai ở Đức mong muốn chiến tranh vào năm 1939. Đấy chỉ là do những chính khách quốc tế đã mong mỏi và khiêu khích nên, những người hoặc có gốc Do Thái hoặc hành động vì quyền lợi của người Do Thái.

Buổi chiều 29 tháng 4, Hitler bắt đầu những bước chuẩn bị cuối cùng. Ông ra lệnh đầu độc con chó Blondi mà ông thương yêu, và cho bắn hai con chó khác. Rồi ông gọi hai nữ thư ký vào và trao cho họ những viên thuốc độc để họ dùng nếu muốn khi quân Nga tiến vào. Ông nói ông lấy làm tiếc đã không thể trao cho họ món quà từ biệt đáng quý hơn, và ông bày tỏ là ông đánh giá cao sự phục vụ lâu dài và trung thành của họ.

Đêm cuối cùng trong đời, Hitler ra lệnh cho một trong các thư ký tên Junge thiêu hủy giấy tờ còn lại trong hồ sơ của ông và truyền lệnh không ai trong boong-ke được đi ngủ cho đến khi có lệnh mới. Mọi người suy diễn ý nghĩa là ông nghĩ đã đến lúc vĩnh biệt. Nhưng đến khoảng 2:30 giờ sáng ngày 30 tháng 4, Hitler mới từ phòng riêng bước ra, đi đến nhà ăn chung, nơi khoảng 30 người tụ tập, phần lớn số này là phụ nữ làm việc cho ông. Ông đi đến bắt tay từng người và thủ thỉ nói vài tiếng mà không ai nghe rõ. Một màn nước mắt dầy phủ đôi mắt ông, theo Junge nhớ lại, "như thể nhìn đến nơi chốn xa xăm, vượt qua các bức tường của boong-ke".

Sau khi ông trở về phòng riêng, một điều kỳ lạ xảy ra. Sự căng thẳng đã tăng đến mức hầu như ngạt thở trong boong-ke đã tan biến, vài người đi đến căng-tin – để khiêu vũ. Tiếng ồn từ nhóm người này càng tăng thêm đến nỗi có lệnh đưa ra từ phòng riêng của Hitler yêu cầu giữ im lặng. Quân Nga có thể đến trong vài tiếng đồng hồ sắp tới và sẽ giết tất cả bọn họ – tuy số đông đang suy nghĩ làm cách nào để trốn thoát. Nhưng trong khoảnh khắc ngắn ngủi này, khi cuộc sống họ không còn ở dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của Hitler, họ muốn tìm thú tiêu khiển ở nơi và theo cách thức có thể nghĩ ra. Cảm giác thư giãn dường như lan rộng trong nhóm người này, và họ tiếp tục khiêu vũ suốt đêm.

Trưa 30 tháng 4 năm 1945, người vợ của ông có vẻ như không thấy đói, còn Hitler dùng bữa cùng với hai thư ký và người nấu bếp – người này không nhận ra là mình đã nấu bữa ăn cuối cùng cho ông. Họ ăn xong vào lúc 2 giờ rưỡi xế chiều. Trong lúc ấy, Erich Kempka, tài xế của Lãnh tụ, được lệnh mang 200 lít xăng đến giao ở khu vườn Phủ Thủ tướng. Kempka gặp vài khó khăn thu thập đủ lượng xăng như thế, nhưng cũng thu được 180 lít, rồi với 3 người khác phụ giúp mang đến cửa thoát hiểm của boong-ke.

Trong lúc ấy, Hitler đã ăn xong, đi tìm Eva Braun để cùng nói lời vĩnh biệt với những người phụ tá thân cận nhất: Göbbels, hai tướng Krebs và Wilhelm Burgdorf, các thư ký, và người nấu bếp Manzialy. Sau khi nói xong những lời vĩnh biệt, Hitler và vợ trở về phòng riêng. Ở hành lang bên ngoài, Göbbels, Bormann cùng vài người khác chờ đợi. Ít lâu sau, họ nghe một tiếng súng lục. Họ chờ nghe tiếng súng thứ hai, nhưng tất cả đều im lặng. Sau một lúc, họ nhè nhẹ bước vào phòng. Họ thấy thi thể của Adolf Hitler ngã dài trên băng ghế dài, đang rỉ máu. Ông đã tự bắn vào miệng. Eva Braun nằm kế bên ông. Hai khẩu súng lục nằm trên sàn, nhưng bà vợ không dùng súng. Bà đã nuốt thuốc độc.

Bây giờ là 3 giờ rưỡi chiều ngày Thứ Hai, 30 tháng 4 năm 1945, mười ngày sau sinh nhật thứ 56 của Hitler, mười hai năm ba tháng sau ngày ông trở thành Thủ tướng của nước Đức và thiết lập Đế chế thứ Ba. Đế chế này chỉ kéo dài hơn ông có một tuần.

Tiếp theo là tang lễ. Không ai cất lên lời nào; âm thanh duy nhất là tiếng đạn đại bác của Liên Xô nổ trong khu vườn Phủ Thủ tướng và trên những bức tường chung quanh. Người phục vụ của Hitler, Thiếu tá SS Heinz Linge, cùng một hộ lý mang thi thể của Hitler được quấn trong một tấm chăn che lấp khuôn mặt. Kempka trông thấy lộ ra ngoài tấm chăn là chiếc quần đen và đôi giầy mà Hitler luôn sử dụng. Thi thể của Eva Braun thì trông tươm tất hơn, không dính máu.

Hai thi thể được mang ra ngoài khu vườn, trong khi đại bác ngưng bắn, được để xuống một hố đạn rồi đốt bằng xăng. Nhóm người, do Göbbels và Bormann dẫn đầu, rút vào đứng trong hầm tránh bom nơi cửa thoát hiểm. Khi ngọn lửa bùng lên, họ đứng nghiêm, đưa cánh tay phải lên chào theo kiểu Quốc xã. Nghi thức diễn ra ngắn gọn, vì đạn pháo của Hồng quân lại bắt đầu rơi xuống khu vườn. Nhóm người còn sống đi vào bên trong boong-ke, để lại ngọn lửa làm nốt công việc xóa đi mọi dấu vết của Adolf Hitler và vợ của ông.

Khởi đầu, người ta cho biết không tìm ra xương của hai người. Điều này nảy sinh lời đồn đại sau khi chiến tranh chấm dứt là Hitler còn sống. Nhưng quân báo Anh và Mỹ thẩm vấn độc lập vài nhân chứng cho thấy không có sự nghi ngờ gì. Sau này Liên Xô tiết lộ đã thu được mảnh vụn thi thể của Hitler kể cả một phần hộp sọ và xương hàm, được pháp y Nga, nha sĩ của Hitler và một pháp y Mỹ chứng nhận đúng là của Hitler.

Báo Mỹ đưa tin về cái chết của Hitler .

Nhận định khác về Hitler
Những thông tin trên được chủ yếu rút ra từ quyển The rise and fall of the Third Reich – A history of Nazi Germany, của William L. Shirer. NXB: Simon and Schuster, Inc., New York, N.Y., 1960. Tựu chung, quyển sách của Shirer được trích dẫn nhiều và không thấy gây tranh cãi nào, dù tác giả là một người Mỹ. Shirer chủ yếu dựa trên khối lượng tài liệu của Đức tịch thu được sau chiến tranh, vì thế tuy đưa ra nhiều chi tiết dồi dào nhưng có thể còn một chiều theo cảm quan của phía Đức (ví dụ như nhận định về các nhà lãnh đạo Tiệp Khắc).

Quyển Hitler at war and the war path (2002) của tác giả người Anh David Irving thì gây tranh cãi nhiều hơn vì cách trình bày cuộc chiến "theo quan điểm của Hitler", tuy Irving trích dẫn lời nhận xét của tờ báo Washington Post năm 1977: "Các sử gia người Anh luôn khách quan đối với Hitler hơn là các tác giả người Đức hoặc người Mỹ". Công bằng mà nói, Irving cũng nhận được nhiều lời khen ngợi.

Irving cho biết đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu riêng tư nên cũng đưa ra vài ánh sáng mới. Lập luận của tác giả là Hitler không có quyền hành rộng lớn đối với cấp dưới như người ta vẫn tưởng, vì thế có nhiều việc cấp dưới làm mà Hitler không biết. Điển hình là cuộc tàn sát người Do Thái, vì không tìm ra bất kỳ văn bản nào của Hitler ra lệnh làm việc này. (Irving còn treo giải thưởng 1.000 bảng Anh cho ai tìm ra một văn bản cho thấy Hitler ra lệnh tàn sát người Do Thái).

Theo Irving, Hitler cũng không có tham vọng lãnh thổ đối với Anh quốc, trong khi Shirer cho rằng tuy Hitler ngưỡng mộ nền văn minh của Anh, ý đồ tấn công Anh là nghiêm túc, chỉ vì Đức không có đủ sức mạnh hải quân cho cuộc đổ bộ lên đất Anh.

Irving có ý công kích phe Đồng Minh, cho rằng Thủ tướng Anh Winston Churchill có trách nhiệm trong việc leo thang chiến tranh, rằng Đức tấn công Nga chỉ vì muốn đánh phủ đầu ý đồ của Nga định đánh Đức.

Irving cũng cho rằng tuy Hitler là con người tàn bạo và vô cảm, ông lại không đủ sắt đá khi cần thiết. Hitler không muốn tổng động viên dân Đức, đến nỗi các nhà máy thiếu công nhân nhưng phụ nữ Đức vẫn ở nhà. Trong một thời gian, Hitler không đối phó một cách cương quyết với những người chống đối ngay trong Quân đội Đức. Hitler thường thu mình trong tổng hành dinh của ông (cũng như Shirer nhận xét là Hitler không bao giờ đi thăm những vùng bị không quân Đồng Minh thả bom).

Cần ghi nhận rằng do lập luận gây tranh cãi của Irving về cuộc tàn sát người Do Thái, các nước Áo, Canada, Israel, New Zealand, Úc và ngay cả Đức đã cấm ông đặt chân lên nước họ. Ngày 20 tháng 2 năm 2006, ông bị Áo tuyên án tù 3 năm vì lập luận đối với cuộc tàn sát người Do Thái.

Cuốn phim Der Untergang (tựa tiếng Anh: Downfall) phát hành năm 2004 trình bày những ngày cuối cùng của Adolf Hitler, dựa trên quyển sách Inside Hitler's Bunker của sử gia Joachim Fest, hồi ký của Albert Speer và hồi ký của Traudl Junge, thư ký của Adolf Hitler. Đạo diễn Oliver Hirschbiegel xác nhận các nhà làm phim muốn thể hiện nhân cách ba chiều của Hitler: một người có sức thu hút cao và không kém nhân từ, hòa nhã đối với người dưới.

Phim Der Untergang nhận được đề cử Giải Oscar về phim nước ngoài hay nhất năm 2005, và đoạt giải thưởng phim ảnh của đài BBC.
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...